GÓC THƯ GIÃN (Sưu tầm và lưu giữ Văn,Thơ, Nhạc và những bài viết hay trong cuộc sống ...)
Trang
- BLOG HY VỌNG VỚI HAI VÌ SAO
- HY VỌNG VỚI HAI VÌ SAO
- LỜI HAY Ý ĐẸP ( SƯU TẦM )
- ÂM NHẠC
- PHẠM ANH DŨNG - NHIẾP ẢNH GIA
- THƠ NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG
- ĐỖ DUNG NGUYỄN
- NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG
- CHƯƠNG HÀ
- PHẠM MAI HƯƠNG
- THIÊN HƯƠNG ( Thơ )
- THIÊN HƯƠNG ( Văn )
- HUỲNH NGỌC LAN
- PHAN VIỆT NAM
- THƠ. TRƯƠNG NGỌC QUYÊN
- * NGUYỄN THỊ MINH TRANG
- * LỜI HAY Ý ĐẸP
- * NHẬT THỤY VY
- SƯU TẦM VĂN HAY
- CỎ DẠI
THƠM NGÁT HƯƠNG ĐỜI
Tác giả tên thật
Nguyễn Đỗ Dzung, sinh năm 1947, cựu nữ sinh Trưng Vương, tốt nghiệp Đại Học Dược
Khoa Sài Gòn năm 1972, Thuyền Nhân, đến Mỹ năm 1980, hiện tại về hưu, vui thú
điền viên, cư ngụ tại miền Bắc, California. Tác giả nhận giải Danh dự năm 2021.
***
Cây cam trước cửa
sổ phòng làm việc của bà Vi đã nở đầy hoa, dày đặc những chùm hoa trắng nõn nà.
Một số cánh hoa từ từ rụng xuống để lại những chùm trái nhỏ xíu lấm tấm như những
đầu chiếc đinh ghim mầu xanh ngộ nghĩnh.
Sáng nay bà Vi dậy sớm, thư thả ngồi nhìn ra cửa sổ, mải mê ngắm hai con
chim đang bay ra bay vào xây cái ổ tít trên cành cao của cây cam. Chiếc tổ chim
vừa hoàn thành, những sợi cỏ khô mỏng mảnh đã được bện thành một cái tổ gọn
gàng, nhỏ bằng hai bàn tay chụm lại. Chúng khôn quá, xây tổ trên cành cam, khi
chim con ra đời sẽ được thưởng thức mùi hương hoa cam thơm ngát. Bà mỉm cười
nghĩ thầm, rồi rảo mắt nhìn ra phía vườn sau.
Joe và thằng Út
Lam đã thức dậy từ khi nào; hai đứa đang mạnh mẽ bổ những nhát cuốc đào mấy hố
đất để sửa soạn đổ móng, đóng cột xây thêm phòng ăn ngoài trời ngay gần phía hồ
bơi. Ngôi nhà này Út Lam của bà mới mua năm 2020, ngay giữa mùa đại dịch Covid.
Trước đó vợ chồng bà cũng sống trong nhà Út, một căn “duplex” nhỏ hai gian, mỗi
gian có hai phòng ngủ, cây cối bà Vi trồng đã xum xuê, đã cho hoa tươi, trái ngọt.
Hai ông bà ở một bên, Út Lam ở gian bên cùng Joe, là bạn và cũng là roommate
thuê phòng từ hơn chục năm qua; mọi người sống rất êm đềm, thuận thảo.
Dọn sang nhà mới
thì Joe cũng dọn theo. Vợ chồng bà Vi ở cái phòng được xây nối bên hông, Joe và
Út ở hai phòng riêng trong nhà chính, có thêm phòng tập thể thao trong nhà, hồ
bơi ở vườn sau, nên hai anh chàng có vẻ vui thích lắm. Joe là một thanh niên Mỹ
trắng trẻo, cao lớn nhưng dáng vẻ thư sinh, tính nết điềm đạm, ăn nói nhỏ nhẹ,
đặc biệt lại rất khéo tay và chịu khó. Ở ngay bên cạnh, có gì trong nhà hư bà gọi
là Joe nhanh nhẹn sang giúp sửa liền. Đôi khi bà đùa:
- Joe, con đúng
là thằng con trai của mẹ!
- I try, I
try... Mom!
Cậu ta trả lời với
nụ cười tươi.
Ở gần lâu ngày,
Joe cũng chịu khó học những câu tiếng Việt. Đôi khi ra vườn sau gặp ông hay bà
nó cũng ngọng nghịu véo von:
- Chào bác, bác
có khỏe không?
Vợ chồng bà Vi rất
quý mến Joe, nên mỗi lần tụ họp cả gia đình chi nhánh nhỏ, hay đại gia đình,
Joe đều có mặt. Và tất cả các cháu trong
đại gia đình bà cũng thương yêu, đùa giỡn thân mật với Joe, và chúng thường gọi
uncle Joe và uncle Lam bằng tên gọi tắt U. J và U. L cho thân mật. Năm vừa rồi
mấy đứa con bà tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày cưới cho cha mẹ, Joe cũng tham gia sắp
hàng cùng mọi người bước lên khán đài tặng hoa, tặng quà cho ông bà như một
thành viên trong gia đình.
Nghĩ tới đây, bà
Vi chợt bồi hồi xúc động. Mới đó mà ông bà đã sống với nhau hơn năm chục năm.
Thời gian mấy mươi năm chỉ như là cái chớp mắt. Trong phút chốc, những chuyện
xưa bỗng ào ạt hiện về.
***
Trước 1975, ông
là nhà giáo, bà là dược sĩ. Ngay sau
ngày mất nước ông phải đi tù “cải tạo” mất ba năm. Tuy làm nghề gõ đầu trẻ,
nhưng mang danh Trung Uý biệt phái từ bộ Tổng Tham Mưu của VNCH nên ông phải bị
đi tù. Nước mất, bà Vi bị quăng vào đời một cách tàn nhẫn. Chưa đến ba mươi tuổi, một nách hai đứa con
thơ. Hai cột trụ chính của gia đình là cha và chồng phải khăn gói đi tù không
biết ngày về.
Trời Sài Gòn
không còn đẹp nữa; nắng Sài Gòn không còn tươi; và cảnh vật Sài Gòn ủ ê khoác
lên một màu xám. Với tâm trạng ngậm ngùi đó, bà Vi thơ thẩn lên thương xá Tam
Đa, đánh liều mướn một quầy nhỏ trong gian hàng của PMC, để may, thêu, vẽ... Tận
dụng hết các nghề tay trái để kiếm gạo nuôi con. NH chia cửa hàng của chị làm
năm phần, ngoài cùng là hai quầy nhỏ, bà Vi một bên, hai chị em Vân Ly một bên.
Đằng sau bà là quầy hàng của nhà văn NC, có cô em BH tươi vui, nhí nhảnh. Đối
diện với NC là gian hàng của vợ chồng NXH với cô vợ DT khéo léo, đảm đang.
Không ngờ bà lại được lọt vào một nơi toàn văn nghệ sĩ!
Sau khi ông ra
tù, thoát khỏi nhà tù nhỏ để về sống trong “nhà tù lớn”, bà Vi có thêm người đỡ
bớt tay chân. Nhưng ông làm sao sống nổi trong cái đất nước mà người dân “Mỗi
tháng sắp hàng mua lạng thịt/Từng năm đợi mét vải che thân” và đầu óc luôn căng
thẳng vì ngơm ngớp lo âu.
Năm 1980 ông bà
dắt hai con và hai đứa em vượt biển thành công, sang định cư tại
California. May mắn có gia đình cô em
sang trước 75 mới mua nhà ở Irvine mời gia đình anh chị và hai em về ở
chung. Chân ướt chân ráo; mới vượt biên
sang vùng đất hứa; mới được thở hít không khí tự do, hưởng thụ ánh sáng văn
minh; và được sống trong căn nhà đẹp, rộng rãi mà nhiều người mơ ước. Hai đứa con tạm đủ lớn, thằng con nhỏ đã chín
tuổi, không phải lo lắng nhiều.
Nhưng rồi, ông
bà lại bắt đầu phải lo con mọn! Chả là một
tháng nọ bà Vi bỗng thấy “thất kinh”.
Nhìn chiếc que thử thai hai ông bà đã giật mình. Ông nhìn bà, bà nhìn ông. Ông bà đã cẩn thận kiêng cữ mà sao vẫn bị vỡ
kế hoạch! Đành phải chấp nhận thôi, họ bảo nhau, tự an ủi, đứa con Trời cho thì
cứ nhận!! Và ông bà rất vui mừng khi sinh được Út Lam. Thằng bé ra đời đem niềm
vui đến với ông bà, thật hạnh phúc khi có bé luẩn quẩn loanh quanh, hủ hỉ với
cha mẹ.
Thời kỳ đó sang
Mỹ trở lại nghề cũ hơi khó. Phải đi học lại, tốn nhiều thời gian nên chồng bà
Vi liền ghi tên học một khóa computer và đúng một năm sau ông đã có việc
làm. Phần bà, khi ấy chưa có chương
trình thi lấy bằng dược sĩ tương đương.
Buổi sáng bà đi học Med – Tech, buổi chiều bà học ESL tại Saddleback
College gần nhà.
Một cơ hội may mắn
đến, các em bà Vi xúm lại giúp đỡ để bà mua được một ngôi chợ nhỏ ở một thành
phố thuộc miền bắc Cali, chủ cũ về hưu nên bán rẻ. Thế là bà mang cu Út theo lên miền Bắc, đi
làm ăn với mẹ. Hai đứa lớn tạm ở lại
Irvine với bố, phải giữ một lương để bảo đảm vì cửa hàng mới mở chưa biết sẽ lời
lỗ ra sao.
Để tiết kiệm, bà
cho sửa sang căn phòng kho chứa đồ phía sau, ngăn vách thành một phòng nhỏ để vừa
một cái giường của mẹ, một cái giường bé xíu cho Út Lam. Cũng may đó là khu hỗn
hợp giữa thương mại và nhà ở nên mẹ con bà Vi mới được ở ngay tại tiệm, vừa tiện
việc trông coi vừa không phải di chuyển mà lại đỡ tốn tiền thuê nhà riêng.
Thời kỳ đầu chợ
chưa có khách, hàng hoá còn thưa thớt, bà Vi phải vắt óc tìm cách kiếm thêm thu
nhập và tăng số lượng khách hàng. Bà nhận
sửa quần áo, may vá, và nhận thêm việc dịch giấy tờ như khai sinh, giá thú, học
bạ, cho một số đồng hương Việt. Trời thương, thằng bé Út Lam quá hiền lành cứ lủn
tủn bên mẹ. Bé thì nằm ngoan ngoãn trong chiếc giỏ xách baby; lớn lên bíết bò,
biết tập đứng tênh tênh thì yên chí bò lổm ngổm hay đứng vịn thành cái lồng
playpen để bên cạnh mẹ như con chó con hiền lành trong cũi; bé không bao giờ quậy
phá hay kêu khóc.
Bà Vi một mình
chèo chống ngôi chợ bằng sự quyết tâm và kiên nhẫn tột cùng giữa cái thành phố
Mỹ lộng lẫy của miền Bắc Cali. Và rồi trời cao không phụ kẻ có lòng. Hai năm sau, nhờ sự nổ lực của bà, ngôi chợ
phát triển, chồng bà đưa hai con lớn lên miền Bắc để gia đình đoàn tụ về một mối.
Cả nhà hợp sức
làm việc, 7 ngày một tuần, 12 tiếng một ngày, từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối. Ngôi chợ ngày càng phát triển mạnh, dần dần
biến thành một cửa hàng bách hóa đúng nghĩa, có đủ mặt hàng gia dụng, kể cả quần
áo và vải vóc. Bà Vi còn mở thêm dịch vụ
nhận đóng thùng quà gửi về VN. Chồng bà
đặt một bàn giấy chuyên lo những dịch vụ giúp người Việt, dịch giấy tờ hộ tịch,
điền đơn bảo lãnh, bán bảo hiểm. Bà còn nhận may đo trực tiếp theo ni tấc cho
khách hàng, kể cả khách Mỹ.
Mấy năm sau, ông
bà mua được căn nhà riêng. Cu Út có anh
chị nên không phải theo ra chợ nữa. Thằng
Út “vét mót” này rất thông minh, khi sắp đi học pre - school, Út đã nói rành cả
hai thứ tiếng Mỹ - Việt. Một hôm mấy cô
em bà Vi đến chơi, vui chuyện bà kể là vì “accident” mới sinh ra Út. Khi họ ra về, thằng bé kéo mẹ vào phòng phụng
phịu:
“Mommy, am I unwanted child?”
Bà Vi nghe lời
con trẻ mà hết hồn, xót dạ, vội ôm bé vào lòng dỗ dành:
“No, no!
You’re the gift from God! Không
phải đâu cục cưng của mẹ! Con là món quà
quý Trời ban cho mẹ! Mẹ yêu con nhất! Nhất!”
Thằng bé nghe thế
thì vít đầu mẹ xuống hôn chụt vào má của mẹ và nhoẻn miệng cười. May mà bé nói
ra chứ nếu nó cứ ôm giữ trong lòng mà hậm hực buồn tủi thì không biết hậu quả sẽ
ảnh hưởng đến cuộc đời nó như thế nào. Từ đó bà Vi phải cẩn thận về lời nói hơn
trước.
Công việc làm ăn
của ngôi chợ ngày càng phất lên như diều gặp gió. Tiệm may của bà Vi cũng đông
khách hơn, bà phải mướn một thợ may người Mỹ đến phụ việc. Thêm nhiều khách Mỹ
đến đưa may, ngay cả may áo cưới, áo dự thi Fashion Show. Bà Vi sáng tạo ra những mẫu áo đẹp, độc, lạ,
nên khách hàng Mỹ rất ưa thích. Bên phần gửi quà về VN, bà mướn thêm một ông
già người Việt để giúp việc đo vải, đóng thùng.
Khi tiền bạc rủng
rỉnh, vợ chồng bà Vi quay qua kinh doanh thêm về địa ốc. Bước đầu bà mua đấu giá một căn “fourplex”
rách nát, bỏ hoang phế lâu ngày với giá chỉ sáu chục ngàn, trả hết bằng tiền mặt.
Bà bỏ thêm mấy chục ngàn nữa sửa lại toàn bộ. Căn nhà sau khi tân trang đã biến
đổi, như cô bé lọ lem thoát xác thành nàng công chúa thật diễm kiều.
Bà Vi bán ngay,
được lời gấp đôi giá vốn! Thừa thắng
xông lên, bà dùng tiền bán nhà “down” hết, mua bốn căn nhà khác, sửa lại cho đẹp
rồi cho thuê. Tiếp theo, ông bà dùng tiền
giành dụm và lợi tức từ cửa hàng đem mua nhà từ từ, khi mua được vài căn nữa
thì ngưng. Tiền cho thuê, bà Vi trả hết
vào tiền nợ nhà. Dự tính đến khi về hưu
nợ nhà vơi đi, ông bà sẽ cho ba đứa con mỗi đứa một căn. Chừa lại một căn để
ông bà cư ngụ, còn thì cho thuê lấy lợi tức an hưởng tuổi già. Nếu còn khỏe mạnh,
ông bà sẽ đi du lịch đó đây để mở tầm con mắt và vui hưởng những cảnh đẹp thiên
nhiên cho bõ với những tháng ngày làm lụng cực khổ.
Nhưng ở đời, có
những bài học kinh nghiệm mà khi học được thì đã trễ. Ngày ấy bà Vi đâu có biết
gì đến dịch vụ các công ty Mỹ quản lý cho thuê nhà ăn huê hồng. Công ty sẽ lo hết thủ tục phỏng vấn chọn người
thuê có lý lịch tốt, nếu bị hư có nhân viên sửa chữa rồi trừ vào tiền thuê
nhà. Họ cũng có những tiêu chuẩn đặt cọc
được ký trong họp đồng để lấy tiền đền nếu người thuê làm hư nhà cửa. Và họ có
cách quảng cáo để những ngôi nhà thuê không bị bỏ trống. Bà Vi tự đăng báo cho
thuê, lựa chọn người theo cảm tính, không biết lấy tiền cọc về bồi thường, nên
căn nhà nào cho thuê cũng chỉ được một năm đầu êm ả, rồi thì những vấn nạn xẩy
ra. Nhà luôn bị trống vài căn; nhà có người thuê thì ít lâu họ lại dở chứng quịt
tiền nhà, khi bị trục xuất thì phá tan hoang trước khi đi, lại phải sửa chữa để
đợi người mới.
Tiếp đến bong
bóng thị trường địa ốc bị bể. Nhà không có người thuê, muốn bán thì không có
người mua. Cứ thế mà cầm cự mấy năm trời thì nguồn vốn cạn kiệt. Mọi việc đến với vợ chồng bà Vi như cơn lốc
xoáy. Của cải đến rồi đi tựa dòng nước
lũ cuốn ra sông. Và ông bà mất trắng!
Khi ấy hai đứa
con lớn của bà Vi đang học ở UC Berkeley.
Út Lam vừa học hết bậc tiểu học.
Ông bà đành gạt nước mắt để ba đứa con lại, nhờ ông bà ngoại và các dì của
cháu trông nom để đi xuyên bang làm ăn.
Và rồi trong một buổi sáng Tháng Ba sương mù dầy đặc, có đôi vợ chồng tuổi
mới trung niên bước thấp bước cao lên máy bay rời bỏ thành phố xinh đẹp San
Francisco với tâm trạng rối bời và đau xót. Phần thì thương con, phần thì tiếc
của, bà Vi bước chân đi mà lòng như bị ai xát muối!
Từ bỏ Cali ra
đi, cuối cùng vợ chồng bà Vi cũng ổn định tại một thành phố nhỏ ở một tiểu bang
xa. Ông làm trong một hãng shipping, bà làm việc trong một tiệm bán và nhận sửa
quần áo. Lương chỉ đủ để sinh tồn, nhưng cũng là lúc ông bà hiểu thế nào là lẽ
vô thường, tự nhìn lại mình, và tự an ủi rằng cũng đã cố gắng làm việc hết sức
mình và cũng từng thực hiện được giấc mơ Mỹ tuyệt đẹp: Từng làm chủ, có nhà cửa,
xe cộ đàng hoàng, tiền bạc rủng rỉnh.
Nhưng vận hạn đến lúc không may nên đã tính toán sai lầm, dồn hết trứng
vào một giỏ. Bạo phát nên bạo tàn. Ôi cũng là định mệnh!
Ông bà bằng lòng
với cuộc sống giản dị lúc đó. Mỗi ngày
làm việc tám tiếng xong là về nghỉ. Tâm
trí không vướng bận những tính toán, lo toan như thời làm việc tại ngôi chợ ở
Cali. Chỉ có việc phải sống xa các con là nỗi buồn nhớ quắt quay, nhất là nhớ
thương thằng Út. Không biết thằng bé lớn
lên bằng cách nào khi thiếu bàn tay chăm nom của mẹ. Từ nơi xứ lạ, ông bà chỉ biết thành tâm cầu
khẩn Trời Phật, tổ tiên phù hộ cho ba đứa con có cuộc sống êm đềm, học hành giỏi
dang, ra đời thì thành đạt. Nếu có nghiệp
chướng từ tiền kiếp thì ông bà xin gánh chịu hết trong những năm cuối đời này,
xin đừng bi lụy đến đời các con cháu.
*
Có tiếng xe cộ
và tiếng lao xao của trẻ con ở đàng trước. Chắc mấy đứa con và các cháu đã đến
họp mặt cuối tuần, cũng là để giúp Út thu xếp nhà cửa. Bà cảm thấy thật vui,
khi nghĩ đến hiện tại các con đã trưởng thành, hai đứa lớn rất thành công, học
xong ra trường đi làm, lập gia đình, và đã có con, nhà cửa ổn định. Riêng Út
Lam dù đã ổn định nó vẫn còn độc thân. Hồi nhỏ Út hay thủ thỉ mộng ước của bé
là muốn học thành bác sĩ để có thể săn sóc bố mẹ lúc về già. Út rất thông minh và học giỏi. Nhưng vì hoàn cảnh
không may của gia đình nên nó quyết định học PA (Physician Assistant) cho
nhanh. Học ra Bác Sĩ phải lâu hơn và tốn
kém hơn nhiều vì dù có mượn nợ để học nhưng phải đi xa và tiền nhà cửa, chi phí
cũng không nhỏ. Út Lam ra trường có việc làm ngay, với mức lương ngày càng khá.
Giành dụm vài năm nó mua một ngôi “Duplex” và đón bố mẹ về ở cho tới ngày nó
mua thêm ngôi nhà này.
Lâu nay, bà Vi
đã để ý tìm dâu, kiếm vợ cho Út Lam. Biết
là tuổi trẻ bây giờ không thích chuyện mối mai, bà tạo những cơ hội như thật
tình cờ để con gặp thêm bạn mới, và nhắc nhở con đã đến lúc phải lập gia đình.
Đây là mơ ước cuối cùng của đời bà. Nhưng Út Lam vẫn tảng lơ né tránh và có khi
bà hối thúc lắm thì nó nói bừa, “Con sẽ không lấy vợ...”
- Mẹ ơi...
Tiếng gọi của Út Lam từ sân sau.
- Gì vậy bé?
Bà hỏi vọng ra.
- Bé của mẹ đã gần
bốn mươi rồi đó mẹ ơi!
Tiếng thằng anh
cả kèm tiếng cười khúc khích của mấy đứa trẻ. Bà cũng cười, vì Út Lam luôn là
thằng con bé bỏng của bà, nên lâu lâu phản xạ từ tiềm thức bà gọi Út là “Bé”
làm các cháu nghe cũng phải buồn cười.
Bà bước ra khu vườn gần hồ bơi, cả đám con cháu đang cùng nhau ngắm nghía, trầm trồ, công trình chúng mới hoàn tất. Một căn phòng nhỏ xinh xinh núp dưới hai cây cam cổ thụ dành riêng cho bà.
Cô con gái hỏi:
- Mẹ muốn đặt
tên gì đây?
Thằng anh lớn
nói:
- Phòng Thiền,
Phòng Vẽ, hay Thư Viện?
- Khiêm Cung Am!
Bà nháy mắt trêu.
Chả là anh con lớn
là người “design” và là trưởng nhóm xây cất; thằng cháu đích tôn, con của anh
con trưởng được ông nội đặt tên là Khiêm Cung. Cả nhà cười ồ thích thú.
Khi bà ngỏ ý muốn
có một cái lều ngoài vườn để có chỗ ông bà ra ngoài sống gần với thiên nhiên, uống
trà buổi sáng hay nằm võng nghỉ ngơi sau “công việc đồng áng” hàng ngày, anh
con trưởng xung phong:
- Mẹ để tụi con
lo! Tụi con sẽ xây cho mẹ một căn phòng xinh để mẹ muốn làm gì thì làm.
Thế rồi cả lũ
con trai xúm lại chỉ hai ngày “weekend” đóng xong ngay cái sườn nhà. Phần còn lại xây tường, lợp mái, lót sàn thì
chỉ còn thằng cả và “uncle Joe” anh chàng Mỹ thuê phòng siêng năng tốt bụng đi
làm về tà tà thêm bớt, và đến hôm nay thì hoàn tất. Bà rất vui vì con cái yêu
thương đùm bọc lẫn nhau, lũ cháu nội ngoại cũng rất thân nhau.
Hàng ngày ngoài
việc chăm sóc khu vườn, bà Vi còn viết văn, vẽ tranh, ngồi thiền, và đi họp
hành cùng các bạn trong hội nhà văn. Cuộc
sống vợ chồng bà vậy là gần như trọn vẹn, giờ bà chỉ mong ước thằng Út Lam lấy
vợ nữa là toại nguyện.
Một buổi tối
ngày Rằm Tháng Tám trăng tròn, vợ chồng bà Vi ra ngồi ở vườn sau uống trà và ngắm
chị Hằng trên cao. Không gian thật tĩnh lặng, gió nhè nhẹ thổi, mơn man cành
lá, quanh vườn thơm ngát hương hoa.
Bỗng đâu Út Lam
trong nhà bước ra, ngồi xuống bên cạnh mẹ với vẻ lúng túng, hai tay đan vào
nhau. Gió đung đưa cành lá trong vườn, ánh trăng vờn qua làm loang lổ khuôn mặt
đầy vẻ căng thẳng của nó. Hình như Út có chuyện gì muốn nói. Vẻ băn khoăn đó
làm cho bà Vi lo sợ. Bà linh cảm có điều gì kinh khủng lắm sắp xảy ra, nên chăm
chú nhìn con trai nhưng không dám hỏi, như thể hỏi câu hỏi của bà sẽ làm vụn vỡ
bầu không khí của đêm trăng yên bình.
Thình lình, Út
Lam hít mạnh một hơi, rồi nói:
- Mẹ! Mẹ có...
thương con không?
Bà Vi ngơ ngác:
- Có chuyện gì vậy? Sao con lại hỏi ngớ ngẩn
thế?
- Con...con...
nói... điều này xin bố mẹ đừng buồn, đừng giận... con nha!
Nó ngập ngừng, rồi bất chợt chụp lấy hai tay mẹ nói thật nhanh:
- Con thương Joe! Chúng con... yêu nhau, và muốn
sống với nhau trọn đời!
Như tiếng sét nổ
bên tai. Bà Vi sững sờ, chết lặng, miệng há hốc. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống
lưng. Bà rùng mình và bàng hoàng đến
không thở nổi. Có lẽ nào. Tại sao lại như thế.
Bà lảo đảo đứng lên không nói một lời.
Và bà bước vội vô nhà quên cả xỏ chân vào đôi dép.
Thấy thằng Út nhìn theo mẹ với vẻ hoảng hốt, ông vội vã trấn an:
- Để bố đưa mẹ vào trong, con đi ngủ đi, mai
hãy nói chuyện tiếp.
Ông vội chạy
theo, dìu bà vào trong nhà. Là đàn ông,
có lẽ ông đã nhận ra điều khác thường của đứa con trai nên không tỏ vẻ ngạc
nhiên.
Suốt đêm bà Vi
không ngủ. Nỗi dằn vặt, khổ đau, trộn lẫn
với sự hối hận, đã bóp nát trái tim người mẹ. Nước mắt tuôn rơi, bà tự trách
mình với đủ lý do. Có lẽ vì sự vỡ kế hoạch
khi dùng thuốc ngừa thai, vì sự buồn lo vì có thai ngoài ý muốn, kể cả sự bỏ
con cho ngoại và các dì nuôi nấng khi nó còn quá nhỏ, vì không được mẹ chăm sóc
nên đã dẫn đến việc ảnh hưởng, thay đổi giới tính thằng bé chăng? Đứa con trai
mà bà yêu thương, trăn trở những ngày đêm phải xa nó, đã mong nó có một mái gia
đình êm ấm, có con cái như các anh chị nó. Vậy mà bây giờ!
Bà trằn trọc. Bà
khóc, và bắt đầu nhớ lại, điểm lại chuyện của Út. Thì ra ngay từ nhỏ Út Lam đã có những tính
cách khác thường, nhỏ nhẹ, dịu dàng, mỏng mảnh như con gái. Bé thích chải đầu, cuộn tóc, chăm chú ngồi
sơn móng tay, móng chân cho mẹ. Hồi bố mẹ
phải đi xa, bé đã may thêu chiếc gối nhỏ hình trái tim để khi đi thăm bố mẹ thì
đem tặng. Bà chỉ biết cười và khen Út giỏi,
không chút nghĩ suy gì. Mới năm, sáu tuổi bé đã thích xem phim tình cảm ủy mị
sướt mướt của Quỳnh Giao, và cùng cười cùng khóc với nhân vật trong phim. Trong
nhà chị mắng thì em cũng chỉ biết ngồi khóc, không bao giờ cãi lại. Út là đứa
con chí hiếu, chăm sóc cha mẹ rất chu đáo kỹ càng. Mỗi lần bà bịnh thằng bé
cũng ăn không ngon, ngủ không yên. Tính tình rất nhu mì nên trong họ ngoài làng
bà con bạn bè đều yêu mến. Càng nghĩ bà càng thương con xót xa.
Thật khuya, khi
thấy bà đã ngưng khóc, ông sà tới sát lại gần, dỗ dành:
- Tội nghiệp thằng
bé, nói ra được với bố mẹ chắc nó cũng trút đi gánh nặng trong lòng. Tôi ủng hộ nó, tôi không biết phản ứng của bà
ra sao nên lâu nay không dám nói. Theo tôi, mình nên chúc phúc cho chúng
nó. Chúng nó là những người tốt, khỏe mạnh,
thiện lành, và vô tội mà!
Bà như không
nghe thấy lời ông nói. Bà bận nhớ đến những
lúc sau này các anh chị nó đã có nói gần, nói xa, nói những lời bâng quơ, khi
thấy Joe đối xử với Út Lam dịu dàng, âu yếm, có lẽ là để chuẩn bị tinh thần cho
bà. Nhưng bà nào để ý, chỉ nghĩ là chúng nó trêu ghẹo cái cách tiếp xúc “rất Mỹ”
của thằng Joe. Thì ra mọi người trong
nhà đều biết, chỉ riêng bà không biết!
Bà Vi bị sốc nặng
khi đối diện sự thật. Trước giờ bà biết rằng khi nói đến “đồng tính” người đời
đều cho rằng đó là những kẻ không hợp với lẽ trời, sống trái với thiên nhiên;
những kẻ trác táng, bịnh hoạn; những kẻ tò mò muốn khám phá cảm giác mới. Xã hội
thì lên án, không công nhận, người đời xa lánh, nhìn bằng con mắt lạ lẫm, nên
những người đồng tính thường phải che dấu, trốn lánh vì sợ ảnh hưởng tới gia
đình.
- Thật tội nghiệp
con tôi!
Bà chợt buột miệng
nói lớn.
- Xác nhận mình là một người đồng tính quả
không dễ dàng!
Như chỉ chờ có thế, ông biết trái tim người mẹ làm sao chối bỏ con mình, nên ông vội nói:
- Đúng vậy! Quả là không dễ dàng!
Rồi ông nói tiếp một hơi.
- Nhưng thời buổi bây giờ, qua những trải nghiệm
trong đời sống, những nghiên cứu của nhiều nhà xã hội học, khoa học, đã chứng
minh rằng Giới Tính của con người có nhiều loại. Riêng về Tính Dục cũng có ít nhất là năm loại:
Dị tính (Yêu người khác phái) – Đồng tính (Yêu người đồng phái) – Lưỡng tính
(Yêu cả hai phái) – Vô tính (không yêu ai hết) – Chuyển giới (Chuyển đổi giới
tính). Người Mỹ gom tất cả những giới tính “bất bình thường” gọi là LGBT.
(Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender). Họ cũng là những người do Đấng Tạo Hoá
sinh ra, nên họ phải được tôn trọng và được sống theo giới tính thực sự của
mình. Không nên phủ nhận giới tính của họ, để họ được sống và yêu như người
bình thường.
Ông còn nói nhiều
nữa, nhưng bà vẫn mở mắt nhìn thao láo lên trần nhà. Bà nghĩ đến thằng Joe. Bây
giờ nhớ lại từng chi tiết, bà thấy Joe rõ ràng là thật tâm thật lòng muốn gia
nhập vào gia đình bà, muốn làm một đứa con thật sự của bà. Biết bà thích trồng
cây, cậu ta đóng ngay cho bà mấy thùng gỗ để bà có mảnh vườn ngăn nắp. Joe còn tập ăn thức ăn Việt, học nói tiếng Việt,
tìm hiểu về phong tục và văn hóa Việt.
Ngày biết bà thắng được giải Danh Dự VVNM của Việt Báo, Joe tỏ vẻ rất
vui, chúc mừng bà rối rít, và kêu bà đưa bài viết thắng giải cho nó bỏ vào
Google dịch để đọc một cách vô cùng thích thú. Khi đó bà Vi thật vui, cảm động
và nghĩ thầm, anh chàng Mỹ này chắc kiếp trước là người Việt Nam nên kiếp này mới
thích người Việt như vậy. Bây giờ nhớ lại, bà mới vỡ lẽ, thì ra lâu nay thằng
Joe đang... làm rể nhà bà!
Đến gần sáng, bà
Vi chợt ngồi bật dậy mở máy tính lên Google tìm kiếm. Bà không cam tâm.
Phải tìm cho ra
nguyên nhân. Phải tìm xem trên trái đất
này có bao nhiêu người lâm vào cái cảnh dở khóc dở cười như đứa con trai út bửu
bối của bà.
Và những thông
tin tìm thấy làm cho bà Vi sửng sốt. Theo Cục Điều Tra Dân Số Hoa Kỳ (The
United States Census Bureau), trong năm 2019 có đến 980,276 gia đình có cặp đôi
là đồng tính. Chỉ nói sơ trong hệ thống chính phủ Mỹ, đã có 2 Thượng Nghị Sĩ và
11 Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ là người đồng tính.
Người ta nói,
“Có tật có tài” quá đúng. Không phải chỉ
mình Út của bà thông minh như bà từng tự hào. Bà Vi còn tìm thấy nhiều người Mỹ
đồng tính thông minh tột đỉnh. Họ đã thành công trong nhiều lãnh vực và trở
thành những người nổi tiếng của nước Mỹ.
Họ kết hôn với người cùng giới và có cuộc sống vợ chồng như những người
bình thường. Điển hình là ông Pete Buttigieg, Bộ Trưởng Giao Thông Hoa Kỳ, người
từng tranh cử chức Tổng Thống Mỹ. Ông kết
hôn hợp pháp với người đồng giới Chasten Glezman, một giáo viên và là nhà văn.
Kế đến là Tim
Cook, là CEO, cũng là đồng sáng lập công ty Apple cùng Steve Jobs. Tim Cook
chưa kết hôn, nhưng ông đã công khai mình là người đồng tính, Gay, vào năm 2014
trong một bài xã luận, trên Bloomberg Businessweek.
Còn Michael Kors
chủ thương hiệu Michael Kors nổi tiếng người Mỹ. Kors đã kết hôn với “chồng” là
ông Lance Le Pere, một nhà thiết kế thời trang người Mỹ tại New York. Họ là một trong những cặp đôi đồng tính nam đầu
tiên tổ chức đám cưới vào năm 2011, sau khi luật pháp tiểu bang cho phép điều
đó.
Và còn nhiều,
nhiều lắm những nhân vật tiếng tăm lừng lẫy, giàu có, quyền cao chức trọng trên
thế giới thuộc vào nhóm LGBT.
Một trang tin
quan trọng nhất bà Vi dừng lại đọc thật kỹ là “Yale School of Public Health.”
Theo John Pachankis, Tiến Sĩ tại Trường Đại Học Yale thì việc “che giấu xu hướng
tính dục của một người có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe thể
chất và tinh thần, tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và giảm khả năng hiển thị trước
công chúng cần thiết để thúc đẩy quyền bình đẳng”(Yale School of Medicine).
Đọc đến đây bà
Vi vội vã tắt máy đứng lên. Bà thương Út Lam quá, nó sửa soạn cho thật chín
mùi, chịu đựng sự dằn vặt bao nhiêu năm bây giờ mới can đảm thổ lộ, vì không biết
phản ứng của bố mẹ sẽ ra sao. Bây giờ đã
hiểu ra, nên bà sẽ không như những người khác, khi biết con của họ sống chung với
người đồng phái đã ghét bỏ, cho là chuyện xấu hổ của gia đình. Bà từng nghe nhiều đứa con đã vì sợ hãi không
dám về nhà; nghe nhiều cha mẹ nhất định từ bỏ chúng để rồi mất luôn con và cả
hai bên cùng đau khổ! Đã có nhiều trường
hợp bào chí đăng, vì bị gia đình ghét bỏ nên những đứa con đồng tính mang mặc cảm
tội lỗi, rồi đi đến trầm cảm, dẫn đến tự huỷ hoại tấm thân! Không, không, bà không thể để con bà rơi vào
tình trạng đó!
Bà bước vội qua
bên phía của hai đứa. Ngôi nhà vắng tanh, lạnh lùng hoang vắng.
Phòng Joe khép hờ
trống trơn với chăn màn ngăn nắp, chắc cậu ta đã đi làm. Nhưng cửa phòng Út Lam
vẫn còn đóng kín. Bà thấy lo nên vội bước
đến gõ cửa dồn dập. Không có tiếng trả lời bà đẩy cửa vào, và thấy thằng Út nằm
im không động đậy. Hoảng hốt, bà vừa lay nó vừa kêu toáng lên:
- Ông ơi! Ông
ơi! Vào đây mau!
Ông lật đật chạy
qua, cũng là lúc thằng Út mở mắt ngồi dậy. Mặt mày nó bơ phờ, với đôi mắt trũng
sâu đầy những tia gân máu đỏ. Bà ôm lấy
ngực hú hồn mà thương đứt ruột, chắc cả đêm rồi nó không ngủ nên sáng mới ngủ
mê man. Ngồi xuống giường, bà choàng tay
ôm Út vào lòng và nói:
- Mẹ đã suy nghĩ
cả đêm, và giờ mẹ đồng ý. Bố thì không có vấn đề gì, nhưng mẹ muốn biết con đã
suy nghĩ kỹ chưa, quyết định chắc chưa?
Út mặt mày sáng
bừng mừng rỡ, tươi tỉnh thấy rõ như vừa uống thuốc tiên, quay qua ôm mẹ:
- Thanks mom, I
love you! Dạ, chắc chắn! Nó gật đầu lia lịa như sợ bà đổi ý.
- Chúng con quen
nhau đã lâu. Memorial Day sang năm là đúng 14 năm. Joe ở bên bố mẹ gần 10 năm rồi,
chắc bố mẹ biết phần nào về nó. Tụi con
tính sang năm 2023 làm đám cưới. Xin bố
mẹ chấp thuận!
- Sure! Bây giờ
biết được tình yêu của các con là “true love” bố mẹ và cả gia đình, đại gia
đình mình, phải sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ con!
Bà nói nhanh cho
thằng con yên lòng.
***
Chỉ còn vài
tháng nữa là đến ngày đám cưới của Joe và Út Lam. Cả nhà rộn ràng sửa soạn. Giấy mời đã được gửi đi. Danh sách số người
tham dự ước tính phải đến một trăm mấy chục người, đó là chỉ mời người trong họ
thật gần, gia đình các anh chị họ ở Paris, London cũng hẹn về. Gia đình Joe từ Ohio sang. Một số bạn bè của Joe và Lam. Hai đứa bàn với
cả nhà là sẽ tổ chức đám cưới tại nhà cho thân mật và ấm cúng. Tiền mướn chỗ
làm đám cưới sẽ dùng để tu bổ vào căn nhà này.
May mắn thay, Út
Lam của bà được sống ở Mỹ, một đất nước tôn trọng tuyệt đối quyền tự do của con
người, và may mắn hơn nữa, là được sống tại “Tiểu Bang Vàng” California, nên
gia đình bà mới có cơ hội tổ chức cái đám cưới mà có lẽ sẽ là rất...lạ lẫm đối
với nhiều người!
Sáng nay Joe và
Lam đi làm cùng lúc, chỉ còn vợ chồng bà Vi ở nhà. Ăn sáng xong hai người lững
thững ra sân sau đi bộ quanh vườn. Không
gian yên tĩnh êm đềm. Xung quanh vườn những bụi hồng nhung đang trổ hoa đủ mầu
đủ sắc. Còn hai năm nữa ông tròn chín mươi, bà gần tám chục. Quỹ thời gian thu ngắn dần. Hơn năm mươi năm chung sống ông bà còn có
nhau đến giây phút này. Bà cầu Trời Phật
cho ông bà luôn khỏe mạnh để buổi hoàng hôn rơi xuống thật êm đềm, buổi chiều
tà hạnh phúc, không phiền muộn các con.
Bà không tiếc nuối, không phiền hà, oán trách. Không tự dằn vặt mình vì
những chuyện thành bại đã xẩy ra trong cuộc đời. Bà tin mọi việc đều có sự sắp
đặt nhiệm mầu của bàn tay Thượng Đế.
Đang đi, bà Vi bỗng
dừng lại dưới bóng mát của một cành cam, hít một hơi dài bầu không khí đây
hương hoa vào trong lồng ngực. Bà nghĩ đến ngày cưới của Út Lam, và cảm thấy một
niềm hạnh phúc vô biên. Bây giờ bà đứng đây thưởng thức hương hoa, nhưng thằng
Út Lam nhà bà rồi đây sẽ được tự do thưởng thức hương vị cuộc đời. Sau cái đám cưới hợp pháp, Út sẽ có thể ngẩng
mặt lên một cách tự hào và đầy hạnh phúc khi đi ra đường cùng Joe. Nghĩ đến cái ngày cùng ông cầm tay thằng Út
trao cho “chồng” nó là thằng Joe, bà bất giác mỉm cười.
Trên trời vài vầng
mây bạc lững lờ bay. Bầu trời rạng ngời
trong xanh bên vầng dương buổi sáng. Nắng vàng tươi. Đám chim chóc trên cây
đang chuyền cành cũng đùa nhau ríu rít như chia sẻ niềm vui cùng bà Vi.
ĐỖ DUNG
Sưu tầm từ Internet
4 ĐIỀU BẠN CẦN LÀM ĐỂ SỐNG HẠNH PHÚC TUỔI GIÀ
Ai cũng khát khao sống an nhàn và hạnh
phúc ở tuổi già. Tuy nhiên để đạt được điều đó, chúng ta cần chuẩn bị một kế hoạch
chỉn chu và áp dụng ngay 4 bí quyết "vàng" sau đây.
1. Duy trì kết nối bạn bè
Sau khi nghỉ hưu, vòng tròn quan hệ xã hội
và bạn bè của người lớn tuổi dần hẹp lại. Nếu chỉ quẩn quanh trong nhà và tập
trung vào việc trông nom các cháu, làm việc nhà thì người già sẽ rất cô đơn. Thực
tế, người già rất sợ sự cô độc và neo đơn. Không chỉ vậy, nỗi cô đơn còn là “mối
hiểm họa” làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, huyết áp, béo phì, trầm cảm,
Alzheimer… Ngoài ra, thiếu vắng bạn bè còn làm người già mắc chứng lo lắng và
căng thẳng thường trực, làm chất lượng giấc ngủ kém đi, cũng như hình thành các
thói quen có hại cho sức khỏe như hút thuốc, rượu bia.
Hạnh phúc tuổi già không thể thiếu sự kết
nối với bạn bè, xã hội.
Để ngăn chặn những nguy cơ bệnh tật kể
trên, người lớn tuổi cần duy trì kết nối bạn bè bằng nhiều cách. Đơn cử là tham
gia câu lạc bộ (như dưỡng sinh, chơi nhạc cụ…), hoạt động thiện nguyện, du lịch
cùng bạn bè để vừa vận động thể chất, chiêm ngưỡng cảnh đẹp, vừa gặp gỡ bạn bè.
Ngoài ra, sử dụng mạng xã hội cũng giúp người lớn tuổi giữ liên lạc với người
thân và bạn bè. Nhờ vậy, người già sẽ tìm được nhiều niềm vui, đồng thời cải
thiện sức khỏe thể chất đáng kể.
2. Biết giữ gìn sức khỏe bản thân
Sức khỏe là tài sản vô giá quyết định mức
độ hạnh phúc tuổi già. Có thể thấy, việc chăm sóc sức khỏe không chỉ là cách đối
xử tốt nhất với bản thân mà còn là với gia đình, con cái và xã hội. Nếu có sức
khỏe tốt thì bạn sẽ giữ được thế chủ động trong cuộc sống, không cần phụ thuộc
quá nhiều vào sự giúp đỡ của con cái, người thân. Hơn nữa, thể chất tốt cũng
góp phần cải thiện sức khỏe tinh thần.
Vì thế khi đến độ tuổi U50, bạn cần quan
tâm nhiều hơn đến tình trạng cơ thể bắt đầu có dấu hiệu sa sút. Kèm theo đó là
những tiềm tàng bệnh tật lâu năm càng lộ diện rõ hơn. Chẳng hạn như thói quen
hút thuốc, uống rượu ở nam giới trong thời gian dài là nguồn gốc cho các căn bệnh
liên quan đến gan, phổi, thận. Với phụ nữ, tình trạng suy giảm nội tiết tố do
mãn kinh bắt đầu xuất hiện.
Đó là lý do người lớn tuổi nên duy trì
chế độ sinh hoạt lành mạnh và ăn uống khoa học đảm bảo đủ 4 nhóm dưỡng chất cần
thiết (đạm, bột, chất béo, vitamin và chất khoáng). Bên cạnh đó, theo khuyến
cáo của Bộ Y Tế, người tuổi U50 nên cắt giảm các chất béo từ động vật để tránh
tình trạng tăng Cholesterol và nguy cơ mắc bệnh về tim mạch. Ngoài ra, khám sức
khỏe định kỳ cũng là việc rất cần thiết để tầm soát phát hiện sớm các căn bệnh
mãn tính.
Duy trì hạnh phúc tuổi già bằng cách
chăm sóc sức khỏe của bản thân, đảm bảo chế độ sinh hoạt và ăn uống lành mạnh.
3. Cải thiện sức khỏe tinh thần
Ngoài thể chất giảm sút, sức khỏe tinh
thần ở độ tuổi ngũ tuần cũng cần được cải thiện. Bên cạnh cảm giác cô đơn, người
già còn dễ cảm thấy chán nản, không tìm được động lực và niềm vui trong cuộc sống
thường nhật. Theo đó, các chuyên gia tâm lý khuyên người tuổi U50 nên tham gia
các hoạt động thể thao, giải trí lành mạnh, tìm hiểu một lĩnh vực mới, theo đuổi
sở thích và đam mê có sẵn… Ngoài ra, người cao tuổi nên hạn chế đọc nhiều tin tức
tiêu cực, thay vào đó nên xem những tin thường thức nhẹ nhàng.
Quan trọng hơn, tạo thói quen tự tìm kiếm
niềm vui từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống sẽ giúp tâm trạng người lớn tuổi
thấy thoải mái hơn. Càng đơn giản sự thỏa mãn với cuộc sống thì hạnh phúc tuổi
già càng trở nên viên mãn. Nhờ đó những nỗi buồn phiền, mối bận tâm không đáng
có cũng được giảm tải đáng kể. Để làm được như thế, bạn nên tìm niềm vui khi tự
do làm điều mình thích, cảm nhận từng khoảnh khắc gia đình sum vầy, tạo hy vọng
cho những ngày mới sẽ đến. Bên cạnh đó, trò chuyện và chia sẻ với người thân,
duy trì tình cảm gia đình gắn kết sẽ ươm mầm cho cảm giác bình yên cho tuổi
già.
4. Tuổi già an vui nhờ tài chính vững
vàng
Với tuổi già, tài chính là của riêng để
an thân và an tâm. Bạn không nhất thiết phải sở hữu một khối tài sản lớn nhưng
cần một khoản tiền vừa đủ để chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần. Có tài
chính độc lập không chỉ giúp bạn thấy tự tin, thoải mái hơn mà còn có thể phục
vụ cho những sở thích riêng, dự định cá nhân. Thực tế, giai đoạn bước dần đến độ
tuổi về hưu dễ khiến người lớn tuổi cảm thấy bất an về tài chính. Từ đó hạn chế
tiêu tiền cho việc khám bệnh, hay đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, du lịch….
Điều này dẫn đến tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần đều không được đảm bảo
tốt.
Vì thế, để chuẩn bị cho cuộc sống tuổi
già, bạn cần có kế hoạch tài chính chi tiêu hợp lý bao gồm các khoản chăm sóc sức
khỏe, chi phí sinh hoạt và sử dụng cho các mối quan hệ. Ngoài ra, nhất định phải
có một khoản tiết kiệm để phòng thân cũng như nuôi dưỡng cảm giác an nhàn, hạnh
phúc tuổi già. Hiện nay, có nhiều cách để đảm bảo tài chính cho tuổi già như gửi
tiết kiệm ngân hàng, tham gia bảo hiểm nhân thọ… Trong đó, tham gia bảo hiểm
nhân thọ mang đến nhiều lợi ích thiết thực để tạo nền tảng cho hạnh phúc tuổi
già, từ đó lan tỏa niềm vui cho con cái và toàn thể gia đình. trong lành, mạnh
mẽ.
Sưu tầm từ Internet
10 LỢI ÍCH ĐI BỘ ĐÁNG KINH NGẠC KHI BẠN
TẬP 30 PHÚT MỖI NGÀY
Lợi ích đi bộ là điều mà chắc hẳn ai
cũng biết “sơ sơ”. Thế nhưng, khi đã hiểu rõ tường tận về loại hình luyện tập
này, bạn sẽ có động lực thúc đẩy mình duy trì việc đi bộ tốt hơn đấy!
Đi bộ là phương pháp rèn luyện sức khỏe
cho mọi đối tượng ở mọi độ tuổi khác nhau. Lợi ích đi bộ đem lại rất lớn dù bạn
chỉ duy trì thói quen này khoảng 30 phút mỗi ngày. Hoạt động này vô cùng dễ
dàng và có thể thực hiện như một cách để bạn có thể hoàn thiện chính mình về cả
thế chất và tinh thần.
Lợi ích của việc đi bộ đối với sức khỏe
1. Tăng cường đốt cháy calorie
Đi bộ có thể giúp bạn đốt cháy calorie một
cách hiệu quả. Đây là một trong những lợi ích đi bộ tuyệt vời giúp giảm cân,
duy trì vóc dáng. Điều này không chỉ là mục tiêu luyện tập của phái đẹp mà còn
là của rất nhiều đấng mày râu.
Lượng calorie được đốt cháy trong mỗi lần
đi bộ sẽ phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau. Một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
là tốc độ đi, quãng đường, địa hình đi bộ. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng máy đo
để biết được lượng đốt cháy calorie chính xác nhất.
2. Hỗ trợ cho hoạt động tim mạch
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đi bộ
rất tốt cho tim mạch. Đặc biệt, duy trì thói quen đi bộ 30 phút mỗi ngày giúp
giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch. Nguy cơ giảm xuống 19% so với những người
không đi bộ.
Trong quá trình tập luyện, tim co bóp và
hoạt động nhiều hơn. Phương pháp này giúp các chức năng tim được cải thiện một
cách tốt nhất. Ngoài ra, bạn cũng có thể thay đổi lộ trình bằng cách tăng thời
gian và quãng đường đi.
3. Giảm lượng đường trong máu
Đối với những ai mắc tiểu đường, lợi ích
đi bộ này chắc chắn bạn không thể bỏ qua. Bởi vì đi bộ sau khi ăn có thể giúp
giảm lượng đường trong máu rất hiệu quả. Hơn thế, mỗi thời điểm đi bộ cũng sẽ
đem đến những lợi ích riêng biệt khác nhau.
Nếu không có nhiều thời gian, đi bộ 15
phút sau các bữa ăn cũng là giải pháp tuyệt vời. Điều này giúp cải thiện lượng
đường trong máu tốt hơn rất nhiều. 15 phút này có thể bằng 45 phút nếu đi bộ
trong các thời điểm khác.
4. Giảm đau khớp khi đi bộ
Những người đau xương khớp cần có lời
khuyên của bác sĩ về việc đi bộ. Quy trình đi theo hướng dẫn sẽ đem đến lợi ích
tuyệt vời. Đây còn là cách để hạn chế chấn thương và ảnh hưởng không đáng có tới
xương khớp.
Đi bộ đúng quy trình có thể bảo vệ các
khớp, bao gồm cả đầu gối và hông của bạn. Các khớp hoạt động tốt hơn, tránh khô
khớp là những lợi ích tuyệt vời của hình thức luyện tập này. Ngoài ra, đi bộ
còn giúp giảm đau cho những người mắc viêm khớp đấy!
5. Tăng cường hệ miễn dịch
Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng đi bộ có
thể làm giảm nguy cơ bị cảm lạnh hoặc cúm. Những người thường xuyên đi bộ có
nguy cơ mắc giảm tới hơn 43% so với những người không tập luyện.
Cố gắng đi bộ hàng ngày khoảng 30 phút sẽ
đem đến sức khỏe tốt nhất cho bạn. Người tập có thể dễ dàng tập ở bất kỳ đâu,
vào bất kỳ thời gian nào.
6. Nạp năng lượng mỗi ngày
Lợi ích đi bộ còn là giúp bạn cảm nhận sự
thư thái khi bắt đầu ngày mới. Sau khi đi bộ, người tập có thể thưởng thức một
tách cà phê. Sự kết hợp này sẽ đem đến hiệu quả tăng cường năng lượng mà không
phải ai cũng biết.
Khi đi bộ, lượng oxy trong cơ thể sẽ được
tăng cường. Các hormone năng lượng trong cơ thể cũng nhận được sự thúc đẩy tốt
hơn. Chính vì vậy, bạn sẽ luôn cảm thấy sảng khoái, khỏe mạnh để bắt đầu một
ngày mới.
7. Cải thiện tâm trạng
Đi bộ không chỉ giúp cơ thể tốt hơn mà
còn đem đến tinh thần sảng khoái. Lợi ích đi bộ không thể bỏ qua mỗi khi nhắc đến
chính là có thể giúp giảm lo lắng. Bạn cũng sẽ cảm nhận được sự tư tin cao hơn.
Để tận hưởng được những cảm xúc khác
nhau khi đi bộ bạn có thể tăng cường độ dần dần. Mỗi tuần đều đặt ra mục tiêu.
Lúc này, người tập hãy chắc chắn mình có thể chinh phục được tất cả. Điều này sẽ
giúp bạn quên đi mệt mỏi, nhờ đó tinh thần luôn minh mẫn.
8. Kéo dài tuổi thọ
Dần dần tăng tốc độ, cải thiện sức khỏe
khi đi bộ sẽ giúp kéo dài tuổi thọ của bạn. Các nhà nghiên cứu đã phân tích người
thời xuyên đi bộ có số tuổi thọ trung bình tốt hơn. Quá trình lão hoá của họ giảm
20% so với người không luyện tập.
Bạn cần chú ý đi bộ đúng cách với tốc độ
vừa phải, không tạo áp lực lên tim mạch. Lợi ích đi bộ này rất phù hợp đối với
người cao tuổi. Tích cực rèn luyện chắc chắn sẽ đem đến hiệu quả như mong muốn
cho bất kỳ ai.
9. Giữ gìn đôi chân thon gọn
Đi bộ có thể giúp cơ bắp ở chân thêm phần
săn chắc. Lợi ích đi bộ này có thể thấy được rõ ràng nhất sau một thời gian tập
luyện. Để sở hữu đôi chân mơ ước, bạn có thể thực hiện đi bộ trên núi, leo cầu
thang…
Những cách thức tạo nên sự kháng lực này
đều sẽ đảm bảo việc rèn luyện đôi chân khỏe mạnh một cách tốt nhất. Bên cạnh
đó, khi kết hợp đạp xe, squat, lunge…, chân của bạn sẽ càng săn chắc và thon gọn
hơn.
10. Tăng cường tư duy sáng tạo
Lợi ích đi bộ còn được đánh giá là một
trong những cách giải tỏa căng thẳng một cách tốt nhất. Điều đó có nghĩa là bạn
sẽ luôn ở trong trạng thái tinh thần thoải mái để có thể làm việc hiệu quả.
Đi bộ ở nhiều khu vực khác nhau còn kích
thích bộ não tư duy và sáng tạo nhiều hơn. Lợi ích này có thể thấy rõ khi so
sánh hiệu quả làm việc của người thường xuyên đi bộ và người không đi bộ.
Làm thế nào để phát huy tối đa lợi ích
đi bộ?
Đi bộ tốt cho sức khỏe là điều không thể
phủ nhận, nhưng đi bộ đúng cách giúp bạn vừa khỏe vừa không mệt và còn giảm khả
năng chấn thương.
Tư thế đi bộ chuẩn: Lưng và cổ thẳng,
tay và vai thả lỏng. Khi đi bộ, vai đánh nhẹ và tự nhiên.
Khởi động: Làm nóng cơ và kích hoạt hê
xương khớp là một việc làm cần thiết trước khi đi bộ để giảm áp lực lên xương
khớp, qua đó hạn chế chấn thương.
Không ăn quá no trước khi đi bộ: Nhiều
người có thói quen đi bộ sau khi ăn cho “tiêu cơm”, điều này thực tế lại có hại
vì hệ tiêu hóa phải làm việc khi cơ thể vận động. Từ đó, dạ dày sẽ chịu thêm
nhiều áp lực.
Sưu tầm từ Internet
Sưu tầm từ Internet
CHA MẸ & CON CÁI
Ajahn Jayasaro
Diệu Liên Lý Thu Linh dịch
Ajahn_JayasaroTỳ Kheo Jayasaro (thế danh: Shaun Chiverton) sinh năm 1958, tại Anh Quốc. Năm 1978, ông tham dự khóa thiền tích cực với Sư Sumedho, trải qua một mùa an cư tại đó (Thiền Viện Amaravati, Anh quốc).
Năm 1979, thọ giới
sa di tại thiền viện Nong Pah Pong, bang Ubon Rajathani, Thái Lan.
Năm 1980: thọ giới
tỳ kheo tại Nong Pah Pong với vị Thiền sư trưởng lão nổi tiếng, ngài Ajahn
Chah, là sư tế độ.
Từ năm 1997-2001:
trụ trì chùa Pah Nanachat (Lâm Tự Viện Quốc Tế), bang Ubon Rajathani, Thái Lan.
Nhiều năm trước
khi xuất gia, tôi đã tin rằng kinh nghiệm mang đến trí tuệ. Vì thế tôi rời bỏ quê hương Anh quốc để đi Ấn
Độ, lang thang đó đây để thu thập kinh nghiệm sống ở châu Âu và châu Á. Cuộc hành trình càng khó khăn, tôi càng thích
thú vì tôi cảm thấy những gian nan đó giúp tôi hiểu về bản thân hơn và chúng sẽ
đem lại lợi ích cho cuộc đời tôi.
Nhưng cuộc hành trình đến Ấn Độ khiến tôi
khá thất vọng. Nó chẳng có nhiều thử
thách như tôi mong đợi, nên trên đường quay trở về, tôi quyết định đi từ
Pakistan về Anh quốc trong khi túi không có đồng xu. Tôi muốn thử xem tôi có thể đi xe nhờ suốt chặng
đường về đó không, và tôi cũng muốn thử xem cảm giác sẽ thế nào khi không sở hữu
gì cả.
Thật là một cuộc mạo hiểm, có nhiều chuyện
tôi sẽ không bao giờ quên. Tôi muốn kể
cho bạn nghe một trong những chuyện đó.
Lúc tôi đến được Tehran –thủ đô của Iran –tôi hoàn toàn kiệt quệ. Tôi ốm như cây sậy, quần áo thì bẩn thỉu,
nhàu nát, chắc tôi trông ghê tởm lắm.
Chính tôi cũng bị sốc khi soi mình qua tấm gương ở một nhà vệ sinh công
cộng. Còn tâm tôi thì càng ngày càng giống
quỷ đói, nó luôn lo lắng về cái ăn: “Liệu hôm nay ta có được gì để ăn hay
không?” Bụng tôi được no hay bị đói tùy
vào lòng tử tế của đồng loại. Tôi phải dựa
vào parami (Ba-la-mật) của mình vì không có gì khác để dựa vào.
Cuối cùng cũng có một người Iran cảm thấy
thương hại tôi, đồng thời anh ta cũng coi đây là cơ hội để thực tập tiếng
Anh. Anh ta đãi tôi uống trà và cho tôi
một ít tiền. Ban đêm, tôi ngủ ngoài đường,
giấu mình trong những con hẻm nhỏ, vắng vẻ.
Tôi sợ cảnh sát sẽ đánh đuổi nếu họ bắt gặp tôi. Buổi sáng, tôi đến một quán súp mà tôi nhớ là
họ cho ăn bánh mì miễn phí. Khi đi dọc
theo đường phố, cố gắng không liếc nhìn vào các quán ăn hấp dẫn và không ngửi
theo những mùi đồ ăn ngào ngạt trong không khí, tôi phát hiện một phụ nữ đang
tiến bước về phía tôi. Bà có vẻ kinh
hoàng khi nhìn thấy tôi. Bà dừng bước lại,
trố mắt nhìn tôi một lúc, rồi bước đến chắn phía trước với vẻ mặt cau có. Bà ra dấu bảo tôi đi theo bà, với kinh nghiệm
của kẻ xin ăn, tôi làm theo ngay. Đi bộ
khoảng mười phút, chúng tôi đến một khu chung cư, rồi lên thang máy đến tầng thứ
tư. Tôi đoán là lên phòng bà, nhưng bà vẫn
chưa nói tiếng nào. Không có nụ cười
thân thiện nào, chỉ có vẻ mặt đầy sát khí.
Khi mở cửa ra, tôi thấy đúng là phòng
bà. Bà dẫn tôi vào nhà bếp, chỉ vào một
chiếc ghế, ra hiệu cho tôi ngồi xuống.
Sau đó bà mang ra cho tôi đủ loại thực phẩm. Tôi tưởng chừng mình đang ở thiên đàng. Tôi bỗng nhận ra rằng món ngon nhất trên đời
là món bạn được ăn khi thực sự đói khát, bao tử réo gọi từng hồi. Người phụ nữ gọi con trai ra, nói gì đó với cậu
mà tôi không hiểu, nhưng tôi thấy cậu khoảng tuổi tôi. Sau một lúc, cậu con trai trở lại với một bộ
quần áo. Khi thấy tôi đã ăn xong, người
phụ nữ chỉ về hướng nhà tắm, ra hiệu cho tôi đi tắm và thay bộ đồ mới. (Tôi đoán có lẽ bà định đốt bộ đồ cũ của
tôi). Bà không nói gì, chẳng hề cười, chỉ
ra dấu cho tôi hiểu bà. Trong lúc tắm,
tôi nghĩ có lẽ người phụ nữ nhìn tôi mà chạnh nghĩ đến con bà: “Sẽ ra sao nếu
con ta đi đến một xứ sở xa lạ và bị khốn khổ như thế?” “Nếu như con ta cũng lâm vào hoàn cảnh đáng
thương như thế, thì sẽ như thế nào?” Tôi
nghĩ là bà đã giúp đỡ tôi với tình thương của một người mẹ. Tôi quyết định tặng cho bà danh hiệu ‘Người Mẹ
Ba-tư đáng kính’ và tự mỉm cười một mình trong buồng tắm. Khi tôi đã xong xuôi mọi thứ, người phụ nữ dẫn
tôi về chỗ cũ, và bỏ tôi ở đó. Rồi bà hòa vào dòng người đang trên đường đến chỗ
làm. Tôi đứng đó nhìn bà lẫn vào đám
đông, và tận đáy lòng tôi biết rằng mình sẽ suốt đời không bao giờ quên ơn
bà. Tôi rất cảm động, mắt tôi đẫm lệ. Bà đã cho tôi quá nhiều dầu chúng tôi là hai
người hoàn toàn xa lạ. Lúc đó tôi ốm như
một xác chết khô, quần áo thì bẩn thỉu, hôi hám, tóc tai dài thượt, bù xù. Nhưng người phụ nữ ấy không hề quan tâm, bà
còn dẫn tôi về nhà và chăm sóc cho tôi như thể tôi là con bà, mà không hề mong
đợi bất cứ sự đền đáp nào –dầu chỉ là một lời cảm ơn. Đã hơn hai mươi năm qua, giờ tôi muốn nói cho
mọi người biết về vị bồ tát có nét mặt quạu quọ này, để mọi người biết rằng dầu
trong các thành phố lớn, cũng có những người tốt, và người tốt có thể còn nhiều
hơn chúng ta nghĩ.
Người phụ nữ đó không phải là người tốt bụng
duy nhất mà tôi đã được gặp. Tôi đã nhận
được sự tử tế và giúp đỡ của nhiều người ở những quốc gia mà tôi đã đặt chân tới
trên bước đường tìm kiếm kinh nghiệm sống, dầu tôi không hỏi xin họ bất cứ điều
gì. Điều đó khiến tôi quyết tâm là trong
tương lai nếu tôi ở vào hoàn cảnh có thể giúp đỡ người khác giống như thế, tôi
sẽ làm. Tôi muốn giúp đỡ để duy trì lòng
tử tế của con người trên thế giới. Xã hội
đôi khi có vẻ như là một nơi không có tình người, quá lạnh lùng, nhẫn tâm,
nhưng tôi nghĩ là mỗi người chúng ta ít nhất có thể cố gắng làm một ốc đảo nhỏ
trên sa mạc.
Tôi đã không về được tận Anh quốc. Tôi đánh mất hộ chiếu gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ,
nên phải quay về Tehran. Ở đó tôi làm
quen được với một số người và kiếm được công việc dạy tiếng Anh. Sau vài tháng, với ít tiền dính túi, tôi quay
trở về Ấn Độ. Ngày sinh nhật mười chín
tuổi tôi trải qua bên bờ hồ với một đạo sĩ Ấn Độ. Ông là một vị thầy tâm linh với cách tu hành
tương tự như của Phật giáo và ông đã dạy tôi rất nhiều điều. Khi sống cạnh ông, tôi có rất nhiều thì giờ để
quán chiếu về cuộc đời mình. Những buổi
chiều tôi thích leo lên ngọn núi gần đó, ngồi dưới một cây cổ thụ, tận hưởng
làn gió mát. Nhìn xuống dòng suối bên dưới
và bãi sa mạc trải dài đến tận chân trời giúp tôi suy nghĩ thấu đáo. Một ngày kia tâm tôi tràn đầy các câu hỏi. Tại sao tôi luôn xúc động mỗi khi nhớ đến sự
tử tế của những người đã giúp đỡ tôi trong suốt cuộc hành trình của mình, những
người đã cho tôi ăn hay ngủ một hay hai đêm- nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy
như thế đối với sự tử tế của cha mẹ tôi.
Họ đã chăm sóc cho tôi suốt mười tám năm, cho tôi ăn từng ngày –ba hay bốn
lần một ngày- vậy mà họ vẫn lo rằng thức ăn không đủ ngon cho tôi. Họ đã cho tôi quần áo, chỗ trú ngụ. Khi tôi ấm đầu xổ mũi, họ đem tôi đi bác sĩ,
còn khi tôi bệnh nặng dường như họ còn khổ hơn tôi. Vậy tại sao tôi chẳng bao giờ xúc động với những
việc như thế? Bỗng nhiên tôi cảm thấy
mình bất công một cách đáng xấu hổ. Tôi
nhận ra rằng tôi đã coi thường sự hy sinh của cha mẹ biết bao nhiêu. Lúc đó, dường như có một bờ đê vừa vụt vỡ
tung. Nhiều tấm gương về lòng biết ơn
(boon khoon) của cha mẹ tôi, lòng độ lượng, tử tế của họ tràn đầy tâm trí tôi,
quá ấn tưọng, quá bao la. Đó là khởi đầu
cho lòng biết ơn của tôi đối với cha mẹ.
Tôi tiếp tục quán tưởng đến việc mẹ tôi hẳn
đã phải chịu bao khó nhọc khi mang thai tôi.
Lúc đầu chắc bà đã bị hành buồn nôn mỗi sáng, thời gian sau thì đi đứng
trở nên khó khăn. Mọi chuyển động đều
đau đớn và không thuận lợi. Nhưng mẹ tôi
đã chấp nhận cái khổ này vì bà tin rằng có điều gì đó rất đáng công, và điều gì
đó chính là tôi.
Khi còn nhỏ, việc gì tôi cũng phải nhờ đến
cha mẹ, vậy mà không hiểu sao tôi coi chuyện đó là bình thường –phải đâu bổn phận
của họ là phải cung cấp, cưu mang, còn tôi chỉ có quyền nhận? Sau cùng, tôi nhận thức được rằng tôi có
duyên được tu tập theo Phật giáo để phát triển một nơi nương tựa thực sự ở bên
trong, là nhờ cha mẹ đã tạo cho tôi một chỗ nương tựa bền vững, đáng tin cậy ở
bên ngoài khi tôi còn trẻ. Họ đã thiết lập
cho tôi một nền tảng vững chắc để tôi có thể toàn tâm toàn trí tu tập, chiến đấu
với uế nhiễm.
Năm 20 tuổi, tôi đến Thái Lan để thọ giới xuất
gia. Cha mẹ tôi không phản đối vì họ muốn
cho con trai có thể sống theo ý nó muốn và được hạnh phúc. Cha mẹ tôi đã chọn điều đó thay cho những kỳ
vọng họ đã đặt vào tôi. Năm ngoái, mẹ
tôi đã thú nhận rằng ngày tôi ra đi là ngày buồn nhất trong đời của mẹ. Nghe vậy tôi rất xúc động. Điều gây ấn tượng ở tôi là mẹ đã rất chịu đựng
và che giấu nỗi khổ đau này suốt hai mươi năm vì mẹ không muốn tôi phải bức rức
vì chuyện này.
Sau khi đã trở thành tu sĩ, đôi khi tôi
không thể không tự trách mình. Khi còn sống
bên cạnh mẹ cha, mỗi ngày tôi đều có cơ hội để làm điều gì đó, hầu đáp lại chút
tình thương mà họ đã dành cho tôi, nhưng tôi hầu như chẳng làm gì cả. Giờ tôi ước muốn bày tỏ lòng biết ơn bằng
trăm ngàn cách thì lại không thể vì tôi đã là tu sĩ và sống cách xa họ hàng
ngàn dặm. Thật tệ hại. Tôi chỉ còn có thể làm những gì mà các vị tu
sĩ vẫn làm hơn hai ngàn năm nay, là rải tâm từ đến cho họ mỗi ngày.
Ở Thái Lan chúng tôi thường nghĩ tưởng đến
‘boon khoon’ (công ơn) cha mẹ. Boon
Khoon là niềm tin rằng mỗi khi ta nhận được sự giúp đỡ, lòng tử tế của ai đó –nhất
là khi được ban tặng- là chúng ta đã mang một cái ơn. Thiện nhân là người biết trọng ơn nghĩa, và
ơn nghĩa sâu dày nhất trong tất cả mọi ơn nghĩa là ơn nghĩa đối với cha mẹ. Đức Phật đã dạy chúng ta phát triển lòng biết
ơn sâu sắc đến với cha mẹ, và ý hướng đáp trả ơn cha mẹ bằng những phương cách
tốt nhất mà chúng ta có thể thực hiện.
Lúc nhỏ, tôi đã không được dạy dỗ về các giá
trị này. Dĩ nhiên, trong nền văn hóa
phương Tây cũng có tình thương yêu, gắn bó giữa cha mẹ và con cái, nhưng nói
chung sự quan tâm, lòng biết ơn lẫn nhau thường ít được coi trọng. Trong khi các giá trị khác như là sự tự do cá
nhân, tính tự lập thì lại được chú trọng hơn.
Tình cảm thâm sâu, gắn bó giữa cha mẹ và con cái có thể cũng được nhiều
người cảm nhận, nhưng nó không được truyền thông rộng rải như một đạo lý chung
trong xã hội như trong văn hóa Phật giáo, thí dụ như ở Thái Lan.
Việc chúng ta phải coi trọng công ơn cha mẹ
có thể được tìm thấy trong giáo lý của Đức Phật về Chánh kiến trong đời sống thế
tục, nền tảng giúp ta hiểu điều này điều nọ trong cuộc sống. Trong kinh điển Pali, Đức Phật dạy rằng ta phải
tin rằng cha ta là thật, mẹ ta là thật.
Có thể bạn sẽ bỡ ngỡ khi đọc điều này phải không? Tại sao Đức Phật phải dạy chúng ta một điều
quá hiển nhiên? Có ai không biết rằng
mình được sinh ra trong cõi đời này là vì cha mẹ mình thực sự có?
Chúng ta cần phải hiểu rằng những lời dạy đó
chỉ là ẩn dụ thôi. Điều Đức Phật muốn dạy
là chúng ta cần phải biết rằng có một ý nghĩa đặc biệt trong quan hệ giữa cha mẹ
và con cái, một ý nghĩa mà ta phải chấp nhận và tôn trọng. Mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái thật sâu sắc
và huyền bí. Đức Phật dạy rằng không có
nghiệp báo nào nặng hơn hành động giết cha hay mẹ. Trong từ ngữ Pali đó là anantariya kamma
–nghiệp này nặng nề đến nỗi người gây nghiệp không thể nào tránh khỏi những hậu
quả gớm ghê, dầu người đó có thật tâm hối hận đến mức độ nào. Như thế khi Angulimala có thể trở thành một vị
A-la-hán dầu đã giết 999 người, thì điều đó sẽ không thể xảy ra nếu ông giết chỉ
một người, mà người đó là cha hay mẹ ông.
Đức Phật không dạy về mối liên hệ thâm sâu
này như là một phương tiện thiện xảo để quảng bá các giá trị trong đời sống gia
đình. Nhưng đó là một chân lý vượt thời
gian mà Ngài đã khám phá ra và sau đó truyền dạy lại vì lợi ích của chúng
sanh. Giáo lý quan trọng đó dạy rằng mối
liên hệ giữa cha mẹ và con cái rất sâu dày và có thể đã diễn ra qua nhiều kiếp
sống. Do đó, chúng ta phải chấp nhận,
tôn trọng, và gìn giữ mối liên hệ đó.
Tóm lại, có thể nói rằng chúng ta được sinh
ra trong kiếp này là để tiếp tục ‘công việc còn dang dở’ đối với mẹ cha. Có khi công việc còn dang dở này được thể hiện
ra một cách không tốt đẹp, như khi đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi, hay bị cha mẹ bạo
hành thân xác hay tâm hồn. Có những hoàn
cảnh như thế, và dường như ngày càng nhiều hơn.
Nhưng những điều tệ hại mà cha mẹ có thể mang đến cho con cái như thế
cũng không xóa bỏ được mối liên hệ thâm sâu này. Kiếp sống này chỉ như là một cảnh trong một
trường kịch, chúng ta không biết điều gì đã xảy ra trong những kiếp quá khứ. Sống trong một xã hội nhân ái, dĩ nhiên chúng
ta phải làm mọi cách để bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm phạm. Chúng ta phải tỏ rõ việc không thể chấp nhận
những điều đó, và phải đối xử với các bậc cha mẹ phạm tội này đúng theo quy luật
xã hội hiện hành. Nhưng đồng thời chúng
ta cũng phải bảo vệ tâm khỏi sự sân hận và thất vọng bằng cách tự nhắc nhở rằng
chúng ta chỉ thấy một phân cảnh ngắn của một thiên trường kịch phức tạp, mà nhiều
thứ đều xa tầm mắt nhìn của ta. Quán chiếu
dựa trên chân lý này giúp nạn nhân của những việc bạo hành, xâm phạm có thể tìm
được phương cách để tha thứ cho những người có liên quan.
May thay, có rất ít các cha mẹ hoàn toàn nhẫn
tâm với con cái. Theo các kinh điển, phần
đông cha mẹ đều như các đấng Phạm Thiên đối với con cái, với tình thương yêu
không lay chuyển, với tâm từ bi và niềm hoan hỷ. Trong một số kinh, Đức Phật đã dạy chúng ta
làm thế nào để đáp trả tấm lòng trời biển của cha mẹ. Một trong những bài kinh nổi tiếng nhất là
bài Sáu Phương Hướng (The Six Directions), mà Đức Phật đã thuyết để dạy thanh
niên Sigalaka. Một đoạn kinh đó nói:
Này thanh niên
Sigalaka (Thi Ca La Việt), người con phải xem cha mẹ là ở về hướng Đông (tự nhủ
lòng), có năm việc phải làm:
- Đã được cha mẹ
chăm sóc, tôi phải chăm sóc lại họ
-Tôi sẽ giúp đỡ
cha mẹ trong công việc của họ
-Tôi sẽ gìn giữ
danh dự và truyền thống gia đình.
-Tôi phải cố gắng
để xứng đáng với gia tộc.
-Tôi sẽ dâng
cúng phẩm vật, hồi hướng công đức cho cha mẹ sau khi họ qua đời. (Trường Bộ Kinh III.189-192)
Giáo lý trong kinh này phản ảnh cấu trúc lý
tưởng trong một xã hội Phật giáo. Kinh
nhấn mạnh vào trách nhiệm của mọi người đối với nhau, vào bổn phận hơn là quyền
lợi. Thật ấm lòng khi biết ngày nay vẫn
có nhiều người ở Thái Lan cố gắng tu tập theo những lời dạy trên. Nhưng có một bản kinh khác mà tôi muốn nhắc đến
ở đây, dầu nó ít được biết đến và ít được thực hành theo hơn. Trong bản kinh đó đức Phật dạy rằng dầu cho
con cái có cõng cha mẹ trên hai vai, trong khoảng trăm năm, chu cấp cho họ cao
lương mỹ vị mà họ ưa thích, tắm rửa họ, để họ bài tiết trên vai mình, hay dâng
cho họ tài sản lớn, đem lại cho họ những vị trí cao sang, quyền lực –dầu con
cái đã làm tất cả những điều đó cho cha mẹ, cũng không thể trả đủ công ơn mà
cha mẹ đã làm cho con cái.
Tuy nhiên, nếu cha mẹ không có hoặc ít có
lòng tin vào Phật pháp, thì người con có thể khơi dậy lòng tin đó nơi cha mẹ,
hoặc nếu cha mẹ không biết tuân giữ giới hoặc trì giới không nghiêm mật mà người
con có thể giúp cha mẹ chuyển đổi, sống đạo đức: thí dụ người con có thể giúp
cha mẹ keo kiệt tìm được niềm vui trong việc bố thí, giúp đỡ người khác hay
giúp cha mẹ phát triển trí tuệ để chiến thắng tâm uế nhiễu, chấm dứt khổ đau,
thì người con đó đã hoàn thành được những nhiệm vụ được coi là thực sự trả được
công ơn mà người đó đã mang đối với cha mẹ.
Có rất nhiều điều cần bàn đến trong bài kinh
này. Trước hết, tôi nghĩ là đức Phật đã
chỉ ẩn dụ. Vì hãy thử hình dung làm sao
bạn có thể chăm bón cha mẹ khi họ ngồi trên vai bạn. Hơn nữa bạn sẽ không thể chịu nổi sức nặng của
họ trên vai trong năm phút, nói gì đến một trăm năm. Nhiều bà mẹ (như là mẹ tôi chẳng hạn) chắc chắn
sẽ không muốn trèo lên đó vì họ sợ té gãy tay, gãy chân. Đức Phật đã sử dụng những hình ảnh đó để ta
thấy rằng, dẫu ta có thể làm được những chuyện không thể tưởng tượng như thế
thì vẫn chưa đủ trả ơn cha mẹ, nói gì đến những điều ta đang làm cho họ hiện
nay. Ngài muốn cho chúng ta thấy rằng ơn
cha mẹ thật vô cùng to tát, cho nên dầu ta có chăm lo cho cha mẹ bao nhiêu bằng
những cung cách bình thường thì cũng vẫn không đủ, vẫn giống như chúng ta chỉ
trả phần lãi của món nợ. Khi chúng ta mắc
nợ, chủ nợ không quan tâm chúng ta đã trả được bao nhiêu nợ trong quá khứ,
nhưng là chúng ta còn phải trả họ bao nhiêu trong tương lai. Tương tự, khi nghĩ đến công ơn cha mẹ, thay
vì nhớ đến bao nhiêu điều chúng ta đã làm cho họ trong quá khứ, hãy nghĩ đến những
gì ta còn chưa làm cho họ, những gì ta còn nợ họ. Món nợ ta mang từ cha mẹ không phải là thứ nợ
bình thường, mà là một bổn phận thiêng liêng.
Đức Phật dạy chúng ta rằng ngoài những điều
ta cần làm cho cha mẹ như đã ghi trong kinh Sáu Hướng (The Six Directions), người
Phật tử còn cần phải sách tấn cha mẹ làm điều thiện. Người con cần phải cố gắng để làm một ‘bạn
lành’ (kalyanamitta) đối với cha mẹ.
Do đó, chúng ta có thể thấy rất rõ ràng ở
đây là, một xã hội Phật giáo là nơi mọi người cố gắng để trở thành bạn tốt của
nhau. Cha mẹ cần cố gắng làm bạn tốt đối
với con cái, và con cái cũng phải cố gắng làm bạn lành đối với cha mẹ mình.
Anh chị lớn cần cố gắng làm bạn tốt với các
em của mình, và ngược lại các em cũng cần làm thế với anh chị mình. Người chồng cần cố gắng làm thiện hữu tri thức
đối với vợ, và vợ cũng phải là bạn lành của chồng mình. Chúng ta cần giúp đỡ
nhau trong việc làm giảm bớt đi những tình cảm tiêu cực trong lòng và cùng nhau
tạo ra một đời sống, một xã hội dựa trên từ, bi và trí tuệ.
Trong bài kinh trên, đức Phật kê ra bốn đức
hạnh. Giờ tôi xin lặp lại và khai triển
thêm về ý nghĩa của chúng.
Saddha(Tín Tâm) là niềm tin rằng đức Phật là
một chúng sanh hoàn toàn giác ngộ, rằng giáo lý của Ngài là chân lý, và chúng sẽ
đem lại giải thoát cho những ai thực hành chúng nghiêm mật. Đó là niềm tin rằng có những người hành theo
lời Phật dạy một cách đầy đủ và nhờ đó được giải thoát. Đó là niềm tin rằng trong tất cả chúng sanh ở
cõi ta bà này, những chúng sanh cao thượng đã được giải thoát này là đáng được
coi trọng nhất. Đó là niềm tin rằng với
tư cách là một chúng sanh, chúng ta có quyền đối với nghiệp của chính mình: sự
việc có tốt hay xấu, chúng ta trải nghiệm khổ đau hay hạnh phúc, đều tùy thuộc
vào chúng ta. Cuộc sống của chúng ta
không tùy thuộc vào thần linh, ma quỷ, chư thiên, thượng đế hay quyền lực thần
bí nào, mà tùy thuộc vào chính thân, khẩu và ý của chúng ta –cả trong quá khứ
và quan trọng nhất, là trong hiện tại.
Saddha chính yếu có nghĩa là niềm tin vào khả năng giác ngộ của chúng
ta, và tin tưởng rằng việc quan trọng nhất trong cuộc đời của một chúng sanh là
giải thoát khỏi khổ đau và gốc khổ đau.
Sila (đạo hạnh hay giới luật) là nét đẹp, sự
thánh thiện trong hành vi. Nó là khả
năng kiềm chế lời nói hay hành động gây hại cho mình hay cho người. Sila là sự giải thoát khỏi nghiệp xấu gây ra
qua thân hay khẩu. Sila càng thêm vững bền
khi chúng được bảo vệ bởi cảm giác xấu hổ đầy ý thức đối với những hành động bất
thiện (hiri), và sự sợ hãi đầy ý thức về các nghiệp quả của những hành động như
thế (ottappa). Sila tạo ra các chuẩn mực
đạo đức cần thiết cho những ai quyết tiến xa trong Phật pháp.
Caga (Xả, rộng lượng) muốn nói đến sự xả ly
khỏi vật chất, hoan hỷ trong sự xả bỏ, từ bi, và giúp đỡ người khác. Người có tâm xả bỏ thường tử tế, quan tâm đến
người, chứ không keo kiệt hay tự mãn.
Panna (trí tuệ) là cái biết phân biệt được
khổ đau và những uế nhiễm tạo ra khổ đau.
Con người luôn phải đối mặt với khổ đau, dầu không ai muốn có chút đau
khổ nào. Chúng ta khổ vì chúng ta không
biết khổ phát khởi như thế nào và làm sao để dừng nó lại. Tại sao chúng ta không biết? Bởi vì chúng ta không hiểu bản thân mà chúng
ta cũng không cố gắng để hiểu hết sức mình.
Khi nào chúng ta còn không hiểu bản thân thì chúng ta sẽ luôn là nạn
nhân của cảm xúc. Điều đó giống như bạn ở
trong căn phòng tối với một con rắn độc.
Liệu ta có thể đi qua lại trong một căn phòng như thế mà không bị rắn cắn? Chỉ việc tránh đụng chạm bàn ghế đã là khó.
Ở giai đoạn bắt đầu, trí tuệ dựa trên tưởng. Nhờ sự vận hành của ký ức mà ta có thể tàng
trữ những điều mình đã được nghe, được đọc về Phật pháp. Chúng ta điều kiện hóa cảm xúc của mình –cả tốt
lẫn xấu- bằng tưởng và ý nghĩ. Những ai
từng lắng nghe Pháp và nhớ đến chúng, có thể quán tưởng về Pháp cho đến khi
thông đạt, rồi sau đó họ có thể thiết lập con đường của sự suy nghĩ chín chắn. Đã được huân tập bằng cách đó, khi tâm rơi
vào một trạng thái bất thiện, nó không hoàn toàn trở nên hoảng loạn, nó không
rơi vào hố sâu, nó có thể nhanh chóng tự điều chỉnh lại. Một người chưa hề biết đến Phật pháp, khi bị
đối xử bất công, thì người đó thường trở nên giận dữ, thất vọng. Nhưng với người đã biết Pháp, người đó có thể
suy nghĩ rằng ngay chính đức Phật còn bị lăng nhục, làm hại, thì làm sao ta có
thể tránh khỏi điều đó? Quán tưởng được
như thế sẽ giúp ta có thể chấp nhận hoàn cảnh.
Bằng phương cách hồi tưởng lại những suy nghĩ khôn ngoan, chúng ta có thể
bắt đầu buông bỏ các tình cảm tiêu cực, bắt đầu tách xa sự sa đà vào rượu và chất
gây ghiện. Giai đoạn có trí tuệ phân biệt
giữa tốt và xấu, giữa cái có ích và cái có hại.
Nó giúp chúng ta có một cái nhìn thực tế, bình tĩnh về cuộc đời và thế
giới. Nhưng nó cũng không phải là chốn
nương trú an toàn, nhất là khi ta phát khởi các cảm xúc mãnh liệt. Ở một mức độ cao hơn của panna là trí tuệ
mang đến kiến thức và sự hiểu biết trong tâm của những ai giữ được giới luật
thanh tịnh và định kiên cố (Samadhi). Ở
giai đoạn này, trí tuệ không còn là suy nghĩ.
Nó nhanh hơn suy nghĩ nhiều, nó giống như một chiếc siêu phản lực, bay
nhanh hơn cả âm thanh. Trí tuệ là thấy
được sự vật rõ ràng như chúng thực sự là, đến nỗi chúng ta không còn muốn bám
víu vào chúng như là tôi hay cái của tôi.
Đó là trí tuệ cuối cùng có thể khám phá được sự thật là tất cả mọi thứ,
kể cả tư tưởng, tình cảm của ta, đều thuộc vể thiên nhiên, không có ai là chủ
thể. Đó là trí tuệ nhận thức ra rằng cuộc
đời của chúng ta không phải là một thành lũy trên đất hoang hóa, mà là một dòng
sông chảy êm ả qua khu vườn đời. Khi
chúng ta phát triển trí tuệ để nhìn ra được điều ấy, chúng ta có thể buông xả. Đức Phật dạy rằng việc khơi dậy lòng tin,
hành vi đạo đức, tâm xả và trí tuệ trong lòng cha mẹ là cách phục vụ cha mẹ tốt
nhất, nhưng Ngài cũng không bỏ qua những cách phục vụ, chăm sóc cơ bản
hơn. Phật dạy rằng người con tốt phải biết
chăm sóc cha mẹ. Việc chăm sóc này có thể
bắt đầu bằng vật chất, nhưng đó không phải là tất cả. Tặng quà cáp hay tạo cho cha mẹ sự thoải mái
là biểu hiện của tình thương yêu, nhưng đó không phải là bằng chứng của tình
thương yêu, và ta không thể dùng chúng để thay thế cho tình thương yêu thực sự.
Cách hành xử của con cái đối với cha mẹ thay
đổi theo từng gia đình, vì điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố; thí dụ như số
con cái trong gia đình, độ tuổi của con cái; con cái còn sống trong gia đình
hay đã ra riêng, ở gần hay ở xa cha mẹ, vân vân.
Khi cha
mẹ già yếu, người con có hiếu phải chăm sóc họ.
Nếu thực sự điều này không khả thi (chứ không phải là viện lý do), thì họ
phải thăm viếng cha mẹ thường xuyên, hay chí ít cũng phải gọi điện thoại hay viết
thư thăm hỏi cha mẹ đều đặn, cũng như thông tin cho cha mẹ biết cuộc sống của
mình thế nào. Biết rằng con cái vẫn tưởng
nhớ, quan tâm đến mình là liều thuốc có thể mang đến cho cha mẹ tâm bình an, liều
thuốc này còn hiệu lực hơn cả các loại thuốc do bác sĩ kê toa. Chúng ta phải giúp đỡ cha mẹ trong tất cả khả
năng của mình. Khi cha mẹ đau yếu, nếu
ta có thể giúp tiền chữa bệnh thì quá tốt, nhưng nếu ta nghèo, không thể làm điều
đó thì hãy mang đến cho cha mẹ những gì ta có –thí dụ như thời gian. Hãy ngồi bên họ, đọc cho họ nghe hay chăm sóc
họ theo cách tốt nhất mà chúng ta có thể làm (thí dụ tắm rửa, làm vệ sinh, đút
ăn hay bóp tay bóp chân cho họ) –những việc làm này đối với cha mẹ đôi khi còn
giá trị hơn tiền bạc hay bất cứ món quà vật chất nào mà ta dành tặng cho họ.
Bài kinh mà tôi dẫn ở trên cho ta thấy rằng
yếu tố lớn nhất để tạo ra hạnh phúc hay khổ đau trong cuộc đời chúng ta là tư
tưởng và cảm xúc hay nói cách khác chính là tâm chúng ta. Vì lý do đó đức Phật dạy rằng những ai có thể
giúp cha mẹ mình phát triển các đức tính thiện lành và trải nghiệm được các trạng
thái tâm hỷ lạc thì người đó được vô vàn công đức. Đó là cách trả ơn khiến cha mẹ chúng ta được
có món quà vô giá.
Chúng ta cảm thấy hạnh phúc khi mang đến cho
cha mẹ những món quà vật chất, hay đối xử đặc biệt với họ, thí dụ, dẫn họ đi ăn
tiệm hay đi chơi vào những ngày lễ, nhưng các loại quà tặng đó luôn có giới hạn. Đặc biệt là các thứ quà vật chất, chúng có thể
bể, tan hoại và còn có thể là nguyên nhân đưa đến sự bất ổn cho những người già
đến nỗi chúng có thể là con dao hai lưỡi.
Sự chăm sóc, lo lắng cho cha mẹ chỉ giúp họ ngay trong kiếp sống
này. Vì thế đức Phật dạy rằng bên cạnh
những cách bày tỏ tình thương yêu, lòng biết ơn đáng tán thán như vậy đối với
cha mẹ, chúng ta không nên coi nhẹ việc lo cho phần tâm linh của họ. Những hạnh lành phát xuất từ trong lòng cha mẹ
hoàn toàn không có mặt tiêu cực. Chúng
không dựa vào các điều kiện bên ngoài, không ai có thể tước đoạt chúng, và
chúng là tư lương cho kiếp sống tương lai.
Vì lý do đó, đức Phật gọi các đức tính bên trong ta là tài sản cao thượng,
là của cải quý báu. Chúng tối cao vì
chúng là phương tiện giúp ta đạt được sự cao thượng thực sự của việc được hoàn
toàn giải thoát khỏi khổ đau. Chúng ta cần
mang thật nhiều hạnh phúc và sự thoải mái đến cho người ân của mình, nhưng đồng
thời cũng đừng quên những thứ cao xa hơn thế.
Làm giảm những khổ đau mà cha mẹ ta phải gánh chịu khi lang thang trong
cõi luân hồi vẫn không bằng làm giảm thiểu các nhân gốc gây ra khổ đau đó.
Tóm lại, những quy tắc trong Phật giáo về vấn
đề làm thế nào để trả món nợ thâm tình mà chúng ta mang đối với cha mẹ tùy thuộc
vào những điều chúng ta tin. Thí dụ:
Luân hồi tái sinh là khổ, và được giải thoát
khỏi sinh tử mới là chân hạnh phúc.
Tái sinh là do ái nhiễm (kilesa)
Chúng
sanh có thể diệt trừ ái nhiễm, nên chúng ta phải làm được điều đó.
Buông bỏ uế nhiễm, vung trồng hạnh lành là
cách tu tập đưa đến chân hạnh phúc.
Vấn đề là: làm thế nào chúng ta có thể
khuyên cha mẹ vung trồng tín tâm, giới hạnh, từ bi và trí tuệ như lời Phật dạy? Chúng ta cần chuẩn bị tinh thần để đón nhận
thất bại. Có thể chúng ta không thực hiện
được tất cả, hay chỉ đạt được phần nào kết quả.
Con chúng ta, “những cành non” còn khó uốn, thì “cây già” làm thế nào dễ
được?[1] Vì thế đừng bực bội hay bức xúc
đối với cha mẹ, đừng bỏ rơi họ, nếu không tâm bạn sẽ u ám, đầy tiêu cực. Thường không ai muốn thay đổi. Vì thế hãy hành động, cư xử tế nhị, khôn
khéo, và đừng đặt quá nhiều kỳ vọng. Hãy
làm vì đó là bổn phận con cái phải làm, nhưng đừng để tâm chúng ta bất an khi
đang làm việc tốt.
Điều quan trọng là chúng ta phải làm gương
cho cha mẹ. Giống như câu, “Hành động
còn lớn tiếng hơn lời nói”, nên đôi khi cách tốt nhất để thuyết phục người khác
không phải bằng lời nói. Nếu chúng ta có
thể để cho cha mẹ thấy được những lợi ích mà chúng ta đạt được khi hành theo Phật
pháp; nếu họ có thể thấy trong ta những đức tính từ bi, trầm tĩnh, yêu thương,
kiên trì và chu đáo, thì họ có thể có được tín tâm và động lực để thực hành
theo. Tóm lại, nếu chúng ta muốn giúp đỡ
cha mẹ, thì đồng thời chúng ta cũng phải tự giúp mình.
Có lẽ điều dễ nhất
là giúp cha mẹ chúng ta vung trồng đức tính thứ ba: xả, vì điều này cũng được đề
cao trong xã hội Thái. Tôi không thể
nghĩ là có một đất nước nào trên thế giới mà người dân nơi đó lại hoan hỷ trong
việc bố thí hơn là ở Thái Lan này. Một
người con tốt sẽ mời cha mẹ cùng đi cúng dường, dâng tặng phẩm vật cùng với
mình đề thực sự làm lợi ích cho Phật pháp và cho xã hội nói chung. Chúng ta cần phải có trí tuệ trong việc lựa
chọn địa điểm và phẩm vật cúng dường hay bố thí. Thí dụ, nếu cúng dường cho tăng đoàn, ta cần
phải biết là kinh Luật cấm người tu sĩ được đòi hỏi người cư sĩ tại gia không
có liên hệ với mình, bất cứ điều gì, trừ
trường hợp người cư sĩ đó đã trang nghiêm thỉnh cầu (pavarana) vị tu sĩ làm thế. Bạn không nên cảm thấy áy náy, áp lực nếu người
tu sĩ muốn kêu gọi bạn cúng dường cho họ.
Làm thế là vị ấy đã phạm giới, nên ta không cần phải sợ gây ra ác nghiệp
nếu như ta không làm theo lời yêu cầu. Trái lại, bố thí, cúng dường trong trường hợp
này không được công đức gì vì ta đã hỗ trợ cho hành vi trái đạo và bôi nhọ tăng
đoàn của người tu sĩ. Hãy trao tặng, bố
thí phẩm vật phù hợp –giá trị của món đồ không tương ưng với công đức được tạo-
và trao tặng trong cung cách để bạn có thể cảm nhận được niềm vui trước, trong
khi và sau khi hành động. Ít có điều gì có thể làm cho sự gắn bó giữa các thành
viên trong gia đình tốt đẹp thêm bằng việc cùng nhau làm điều thiện như bố thí.
Thêm nữa, chúng ta cũng có thể làm gương cho
cha mẹ bằng cách sống giản dị, không tiêu xài phung phí và không mê đắm vật chất
quá mức. Nhắc nhở cha mẹ bằng cách đó
(chứ không phải bằng cách thuyết giảng cho họ), có thể khiến cho họ xét lại
thái độ của họ đối với vật chất. Chúng
ta có thể là tấm gương để cha mẹ soi lại bản thân và như thế là chúng ta đã biết
cách phụng sự cha mẹ, vì được giải thoát khỏi sự bám víu vào vật chất là một ý
nghĩa khác của thuật ngữ caga (xả). Có
những người cha khi nhìn thấy một chiếc xe xịn đời mới thì cũng háo hức như mấy
cậu choai choai, ngược lại cũng có những bà mẹ khi ngắm những chiếc áo thời
trang hiện đại, cũng xuýt xoa như các cô gái trẻ.
Do lòng ham muốn hưởng thụ vật chất cuồng
nhiệt, ngày nay không còn là chuyện lạ khi các vị trung niên có những hành động
mà các vị lão niên ngày xưa sẽ coi là thiếu chín chắn. Do đó chính là việc chúng ta biết khi nào để
dừng, biết đâu là đủ, có thể nhắc nhở cha mẹ chúng ta làm theo.
Mặt khác, cũng tùy theo cá tính của người
làm cha mẹ. Nếu cha mẹ là người thỉnh
thoảng cũng biết đến chùa, nghe Pháp, thì khá dễ cho chúng ta đàm luận những vấn
đề có ý nghĩa với họ khi có cơ hội.
Nhưng nếu họ không quan tâm đến Phật pháp; nếu họ vẫn còn đầy đủ sức khỏe
và chưa bao giờ nghĩ đến cái chết không thể tránh khỏi, thì họ có thể sẽ khó chấp
nhận. Những vị xem các phiền não của
mình như của quý, như một thứ gì đó thêm gia vị vào đời sống của họ, sẽ cảm thấy
Phật pháp như là can thiệp vào cuộc sống của họ, và họ sẽ cố gắng tránh né hay
chối bỏ nó. Trong trường hợp này, chúng
ta phải chấp nhận và tôn trọng quyền tự do của họ. Đừng cằn nhằn hay o ép họ. Phật pháp không phải là thứ mà bạn có thể đem
áp đặt lên người khác, dầu bạn muốn cho họ được lợi ích. Nếu cha mẹ ta có không chấp nhận Phật pháp,
chúng ta cũng phải cho qua trong lúc này, và lúc nào cũng sẳn lòng, cũng hoan hỷ
để chia sẻ với họ những gì ta có thể bất cứ khi nào, nếu như họ có đổi ý.
Riêng đối với những bậc cha mẹ có ý hướng muốn
tìm hiểu Phật pháp, chúng ta có thể đem họ đến chùa để họ tạo công đức, nghe
Pháp, và hành thiền trong không gian tĩnh lặng.
Nếu họ vẫn còn mê tín về bùa phép, bói toán, đồng bóng, phù thủy, vân
vân, thì nên trao đổi với họ khi có thể.
Tuy nhiên, bạn cần phải trao đổi đúng nơi, đúng lúc, đừng làm cho cha mẹ
cảm thấy là bạn hiểu biết hơn họ, là bạn khôn ngoan hơn họ. Hãy khuyến khích họ thường xuyên tập thể dục:
Khí công rất tốt vì nó cũng là một hình thức thiền tập. Hãy tìm cho họ những quyển sách hay về Phật
pháp để họ đọc, hay những băng đĩa về Phật pháp để họ nghe. Trao đổi với họ về sinh, già, bệnh và chết một
cách tự nhiên, để họ thấy đây không phải là những đề tài ta cần tránh né khi
trò chuyện. Tín tâm và trí tuệ phát khởi
từ sự can đảm đối mặt với những sự thật trong cuộc sống. Không phải là ta có thể trốn tránh những sự
thật này chỉ bằng cách phớt lờ chúng.
Điều quan trọng cần phải nhớ là đức Phật
không dạy rằng một người con tốt là phải làm tất cả những gì cha mẹ bảo hay yêu
cầu ta làm. Từ chối không làm như cha mẹ
muốn không phải lúc nào cũng sai. Vì
sao? Vì có những cha mẹ bảo hay bắt con
cái phải làm những điều không hợp đạo lý.
Nếu cha mẹ bảo chúng ta làm những việc phạm pháp hay tạo các ác nghiệp
như uống rượu, cờ bạc, thì không có gì sai, nếu ta trái ý họ. Chúng ta không chỉ có bổn phận báo ơn đối với
cha mẹ. Chúng ta còn là con của Phật, và
lòng từ bi của Ngài đối với chúng sanh còn lớn hơn các bậc cha mẹ. Do đó bổn phận báo đáp của chúng ta đối với
Ngài còn phải to lớn hơn. Vì vậy nếu những
nỗ lực để bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với cha mẹ trái ngược lại với
nguyện ước được làm việc thiện và sống chân thật, thì người trí, với sự cẩn trọng,
từ tốn nhất, nên đem những gì đúng, thiện lành làm kim chỉ nam cho mình. Làm người con hiếu thảo đối với cha mẹ không
có nghĩa là bằng mọi giá phải làm theo ý họ.
Tuy nhiên, chúng ta phải có những quy tắc rõ ràng, đúng đắn và phải cố gắng
trung thực, không được tỏ ra vô cảm, cứng nhắc.
Nếu có thì giờ vào buổi sáng hay chiều, hãy
mời cha mẹ cùng tụng kinh hay hành thiền với bạn. Sự bình an, tĩnh lặng mà ta có thể trải nghiệm
qua thiền tập mang đến cho ta hạnh phúc, sức mạnh và sự sáng suốt tuyệt vời. Người có tâm bình lặng thường được sống lâu
vi sức mạnh của tâm bình ổn có thể chế ngự sự buồn phiền, ưu tư và lo lắng làm
suy yếu hệ thống miễn nhiễm của chúng ta.
Nếu cha mẹ chúng ta biết tập hành thiền cho đến khi trở thành nhuần nhuyễn,
thì họ sẽ có được chốn nương tựa nội tại vững chải khi họ bệnh hoạn.
Công phu thiền tập của chúng ta chỉ có hiệu
quả khi nó được phát triển cùng với nỗ lực kiềm chế lời nói và hành động. Một phương cách dễ dàng để giúp cha mẹ giảm
thiểu các uế nhiễm của họ là đừng đắm chìm vào những câu chuyện bất thiện với họ. Thí dụ, nếu cha mẹ ta bắt đầu nói dèm pha hay
nói xấu ai đó thì chúng ta chỉ cần giữ im lặng.
Nếu chúng ta không góp chuyện hay hùa theo, thì họ sẽ sớm nản lòng với
những chuyện đó và có thể sẽ có được chút ít tỉnh giác.
Con cái khi còn sống trong gia đình phải giữ
thái độ trung dung, không bênh vực bên nào khi thỉnh thoảng giữa cha mẹ có xảy
ra sự cãi vả. Trong lúc căng thẳng, cả
hai cha mẹ thường cố gắng kéo con cái về phía mình. Người con biết đạo sẽ không để tình huống này
xảy ra, mà cố gắng làm người hòa giải công bằng. Chúng ta lúc đó phải cố gắng xoa dịu người
đang giận dữ, và cần cẩn thận để không nói hay làm điều gì khiến tình thế thêm
phức tạp. Chúng ta cần cố gắng giúp cha
mẹ hóa giải những sự khác biệt, dằn co giữa họ mà không để cho bên nào cảm thấy
là mình thắng cuộc hay thua cuộc. Chúng
ta cần kiên nhẫn lắng nghe cha mẹ càu nhàu, than vãn. Lắng nghe cha mẹ, giảng hòa khi họ tranh cãi,
khuyến khích họ nói lời chánh ngữ: đây cũng là những cách mà chúng ta có thể
dùng để trả công ơn mà ta đã nợ cha mẹ.
Nếu chúng ta có thể làm bạn lành đối với cha
mẹ trong một thời gian dài, thì họ sẽ bắt đầu tin cậy, nể trọng ta ngày càng
nhiều hơn. Ảnh hưởng của chúng ta đối với
họ và cơ hội để hướng dẫn họ hành thiện sẽ ngày càng tăng trưởng. Nhưng việc này cần có thời gian, chúng ta
không nên vội vã. Chúng ta cũng cần ghi
nhận là bản thân mình đã được lợi ích như thế nào từ những nỗ lực trên vì ta cần
rất nhiều nhẫn nại để đối xử với người lớn tuổi đúng cách. Vì lớn tuổi, người ta thường trở nên khó chịu,
hay quên và hay cằn nhằm. Chúng ta dễ bực
mình vì những điều này khi ở bên họ, vì thế chúng ta cũng cần có chánh niệm để
duy trì nội tâm bình ổn. Do đó, bằng
cách giúp đỡ cha mẹ, chính là ta cũng tự giúp bản thân.
Thật ra sống trên thế giới này là ta đã nhận
rất nhiều ân sủng. Chúng ta có trồng thực
phẩm mà mình dùng hôm nay không? Do đâu
mà chúng có? Chúng ta có tự may bộ quần
áo mình đang mặc không? Vải vóc từ đâu
mà ra? Chỉ một mảnh vải sợi cũng cần phải
có người trồng vải sợi, người hái trái vải, người dệt vải, thợ may, người thiết
kế, người chế tạo ra máy dệt và máy may.
Nếu ta sử dụng điện thoại, xem truyền hình hay ngồi trong xe hơi, là
chúng ta đã dựa vào trí thông minh, tính cần cù của bao nhiêu người trong bao
nhiêu xứ sở? Biết trân trọng nguồn gốc của
những gì mình sở hữu có thể giúp tâm ta lắng đọng và giúp ta cảm nhận về mối
liên chằn chịt giữa con người trên thế giới này với nhau, mà mắt thường sẽ
không nhìn thấy được.
Chúng ta không chỉ phải hàm ân người đồng loại
mà cũng phải mang ơn cả những sinh vật khác.
Thí dụ, nếu không có sâu bọ ăn đất, chúng ta sẽ không thể trồng trọt, mà
không có canh nông thì con người cũng không thể tồn tại. Vì thế chúng ta cũng mắc nợ sâu bọ. Rồi đến những con trâu nước, bò, và nhiều giống
thú nuôi khác. Có bao giờ chúng ta cảm
thấy hàm ân chúng không?
Thật ra, tôi còn nghĩ là nếu con người biến
mất khỏi mặt đất, chắc là tất cả các sinh vật khác sẽ tụ hội lại mà reo hò đến
khản tiếng. Con người quả thật rất vô
ân: chúng ta tàn phá thiên nhiên, làm hao mòn tài nguyên thiên nhiên, và gần
như biến trái đất thành nơi không thể sống –tất cả chỉ vì lợi ích cá nhân. Đằng sau những hành động đó là ảo tưởng rằng
chúng ta là chủ trái đất này, nên không
có trách nhiệm gì đối với các sinh vật và cây cối đang cùng sống trên đó. Là người Phật tử, chúng ta cần phải có trí tuệ
hơn thế, vậy mà phần đông cũng hấp thụ một cách vô thức theo phương Tây cách
nhìn cuộc đời điên rồ như thế. Kết quả
là chúng ta sống vô cảm. Trong tương lai
chúng ta và con cháu chúng ta sẽ phải hứng chịu hậu quả từ những nghiệp do ta tạo
ra ngày hôm nay, vậy chúng ta còn trách được ai ngoài bản thân? Giờ cũng không quá trể để sửa chữa vấn đề,
nhưng chúng ta cần phải thay đổi thái độ để có thể nhận thức sâu rộng về sự tử
tế và ân sủng mà trái đất này ban tặng cho ta.
Chúng ta cần hợp tác, cần đoàn kết để làm giảm thiểu sức mạnh của tánh
ích kỷ của con người. Và chúng ta có thể
bắt đầu điều đó trong chính gia đình của mình.
Đức Phật dạy rằng thật khó để tìm được ai
không từng là cha, mẹ, anh, chị, em của chúng ta trong những kiếp sống trước. Do đó, khi quán chiếu về công ơn ta mang đối
với cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình, thì hãy nhớ đến lời dạy
này. Hãy nỗ lực thêm để bày tỏ lòng biết
ơn đối với tất cả nhân loại. Hãy huân tập
để làm bạn lành đối với tất cả những ai ở quanh ta và trên trái đất ta đang sống.
Cuối cùng, xin nguyện cho tất cả được sống
làm người bạn lành. Hãy là bạn lành đối
với bản thân bằng cách chỉ hành động, nói năng và suy nghĩ những điều tốt lành
cho bản thân và cho người. Hãy là bạn
lành đối với những người đã giúp bạn, nhất là cha mẹ mình. Hãy mang đến cho họ những gì bạn có thể, hãy
giúp họ sao cho xứng đáng với những gì họ đã giúp bạn. Quan trọng nhất là, với sự gia hộ của Tam Bảo,
mong rằng các bậc cha mẹ và tất cả chúng ta luôn được tăng trưởng, được sung
túc trong các hạnh lành của tín tâm, giữ giới, bố thí và trí tuệ.
Diệu Liên Lý Thu
Linh
(chuyển ngữ theo sách Daughters & Sons, với sự đồng ý của ngài Ajahn Jayasaro, thông qua Monastery Secretary Amaravati, ngày 25.8.2014).
Ajahn_JayasaroTỳ Kheo Jayasaro (thế danh: Shaun Chiverton) sinh năm 1958, tại Anh Quốc. Năm 1978, ông tham dự khóa thiền tích cực với Sư Sumedho, trải qua một mùa an cư tại đó (Thiền Viện Amaravati, Anh quốc).
Năm 1979, thọ giới
sa di tại thiền viện Nong Pah Pong, bang Ubon Rajathani, Thái Lan.
Năm 1980: thọ giới
tỳ kheo tại Nong Pah Pong với vị Thiền sư trưởng lão nổi tiếng, ngài Ajahn
Chah, là sư tế độ.
Từ năm 1997-2001:
trụ trì chùa Pah Nanachat (Lâm Tự Viện Quốc Tế), bang Ubon Rajathani, Thái Lan.
Nhiều năm trước
khi xuất gia, tôi đã tin rằng kinh nghiệm mang đến trí tuệ. Vì thế tôi rời bỏ quê hương Anh quốc để đi Ấn
Độ, lang thang đó đây để thu thập kinh nghiệm sống ở châu Âu và châu Á. Cuộc hành trình càng khó khăn, tôi càng thích
thú vì tôi cảm thấy những gian nan đó giúp tôi hiểu về bản thân hơn và chúng sẽ
đem lại lợi ích cho cuộc đời tôi.
Nhưng cuộc hành trình đến Ấn Độ khiến tôi
khá thất vọng. Nó chẳng có nhiều thử
thách như tôi mong đợi, nên trên đường quay trở về, tôi quyết định đi từ
Pakistan về Anh quốc trong khi túi không có đồng xu. Tôi muốn thử xem tôi có thể đi xe nhờ suốt chặng
đường về đó không, và tôi cũng muốn thử xem cảm giác sẽ thế nào khi không sở hữu
gì cả.
Thật là một cuộc mạo hiểm, có nhiều chuyện
tôi sẽ không bao giờ quên. Tôi muốn kể
cho bạn nghe một trong những chuyện đó.
Lúc tôi đến được Tehran –thủ đô của Iran –tôi hoàn toàn kiệt quệ. Tôi ốm như cây sậy, quần áo thì bẩn thỉu,
nhàu nát, chắc tôi trông ghê tởm lắm.
Chính tôi cũng bị sốc khi soi mình qua tấm gương ở một nhà vệ sinh công
cộng. Còn tâm tôi thì càng ngày càng giống
quỷ đói, nó luôn lo lắng về cái ăn: “Liệu hôm nay ta có được gì để ăn hay
không?” Bụng tôi được no hay bị đói tùy
vào lòng tử tế của đồng loại. Tôi phải dựa
vào parami (Ba-la-mật) của mình vì không có gì khác để dựa vào.
Cuối cùng cũng có một người Iran cảm thấy
thương hại tôi, đồng thời anh ta cũng coi đây là cơ hội để thực tập tiếng
Anh. Anh ta đãi tôi uống trà và cho tôi
một ít tiền. Ban đêm, tôi ngủ ngoài đường,
giấu mình trong những con hẻm nhỏ, vắng vẻ.
Tôi sợ cảnh sát sẽ đánh đuổi nếu họ bắt gặp tôi. Buổi sáng, tôi đến một quán súp mà tôi nhớ là
họ cho ăn bánh mì miễn phí. Khi đi dọc
theo đường phố, cố gắng không liếc nhìn vào các quán ăn hấp dẫn và không ngửi
theo những mùi đồ ăn ngào ngạt trong không khí, tôi phát hiện một phụ nữ đang
tiến bước về phía tôi. Bà có vẻ kinh
hoàng khi nhìn thấy tôi. Bà dừng bước lại,
trố mắt nhìn tôi một lúc, rồi bước đến chắn phía trước với vẻ mặt cau có. Bà ra dấu bảo tôi đi theo bà, với kinh nghiệm
của kẻ xin ăn, tôi làm theo ngay. Đi bộ
khoảng mười phút, chúng tôi đến một khu chung cư, rồi lên thang máy đến tầng thứ
tư. Tôi đoán là lên phòng bà, nhưng bà vẫn
chưa nói tiếng nào. Không có nụ cười
thân thiện nào, chỉ có vẻ mặt đầy sát khí.
Khi mở cửa ra, tôi thấy đúng là phòng
bà. Bà dẫn tôi vào nhà bếp, chỉ vào một
chiếc ghế, ra hiệu cho tôi ngồi xuống.
Sau đó bà mang ra cho tôi đủ loại thực phẩm. Tôi tưởng chừng mình đang ở thiên đàng. Tôi bỗng nhận ra rằng món ngon nhất trên đời
là món bạn được ăn khi thực sự đói khát, bao tử réo gọi từng hồi. Người phụ nữ gọi con trai ra, nói gì đó với cậu
mà tôi không hiểu, nhưng tôi thấy cậu khoảng tuổi tôi. Sau một lúc, cậu con trai trở lại với một bộ
quần áo. Khi thấy tôi đã ăn xong, người
phụ nữ chỉ về hướng nhà tắm, ra hiệu cho tôi đi tắm và thay bộ đồ mới. (Tôi đoán có lẽ bà định đốt bộ đồ cũ của
tôi). Bà không nói gì, chẳng hề cười, chỉ
ra dấu cho tôi hiểu bà. Trong lúc tắm,
tôi nghĩ có lẽ người phụ nữ nhìn tôi mà chạnh nghĩ đến con bà: “Sẽ ra sao nếu
con ta đi đến một xứ sở xa lạ và bị khốn khổ như thế?” “Nếu như con ta cũng lâm vào hoàn cảnh đáng
thương như thế, thì sẽ như thế nào?” Tôi
nghĩ là bà đã giúp đỡ tôi với tình thương của một người mẹ. Tôi quyết định tặng cho bà danh hiệu ‘Người Mẹ
Ba-tư đáng kính’ và tự mỉm cười một mình trong buồng tắm. Khi tôi đã xong xuôi mọi thứ, người phụ nữ dẫn
tôi về chỗ cũ, và bỏ tôi ở đó. Rồi bà hòa vào dòng người đang trên đường đến chỗ
làm. Tôi đứng đó nhìn bà lẫn vào đám
đông, và tận đáy lòng tôi biết rằng mình sẽ suốt đời không bao giờ quên ơn
bà. Tôi rất cảm động, mắt tôi đẫm lệ. Bà đã cho tôi quá nhiều dầu chúng tôi là hai
người hoàn toàn xa lạ. Lúc đó tôi ốm như
một xác chết khô, quần áo thì bẩn thỉu, hôi hám, tóc tai dài thượt, bù xù. Nhưng người phụ nữ ấy không hề quan tâm, bà
còn dẫn tôi về nhà và chăm sóc cho tôi như thể tôi là con bà, mà không hề mong
đợi bất cứ sự đền đáp nào –dầu chỉ là một lời cảm ơn. Đã hơn hai mươi năm qua, giờ tôi muốn nói cho
mọi người biết về vị bồ tát có nét mặt quạu quọ này, để mọi người biết rằng dầu
trong các thành phố lớn, cũng có những người tốt, và người tốt có thể còn nhiều
hơn chúng ta nghĩ.
Người phụ nữ đó không phải là người tốt bụng
duy nhất mà tôi đã được gặp. Tôi đã nhận
được sự tử tế và giúp đỡ của nhiều người ở những quốc gia mà tôi đã đặt chân tới
trên bước đường tìm kiếm kinh nghiệm sống, dầu tôi không hỏi xin họ bất cứ điều
gì. Điều đó khiến tôi quyết tâm là trong
tương lai nếu tôi ở vào hoàn cảnh có thể giúp đỡ người khác giống như thế, tôi
sẽ làm. Tôi muốn giúp đỡ để duy trì lòng
tử tế của con người trên thế giới. Xã hội
đôi khi có vẻ như là một nơi không có tình người, quá lạnh lùng, nhẫn tâm,
nhưng tôi nghĩ là mỗi người chúng ta ít nhất có thể cố gắng làm một ốc đảo nhỏ
trên sa mạc.
Tôi đã không về được tận Anh quốc. Tôi đánh mất hộ chiếu gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ,
nên phải quay về Tehran. Ở đó tôi làm
quen được với một số người và kiếm được công việc dạy tiếng Anh. Sau vài tháng, với ít tiền dính túi, tôi quay
trở về Ấn Độ. Ngày sinh nhật mười chín
tuổi tôi trải qua bên bờ hồ với một đạo sĩ Ấn Độ. Ông là một vị thầy tâm linh với cách tu hành
tương tự như của Phật giáo và ông đã dạy tôi rất nhiều điều. Khi sống cạnh ông, tôi có rất nhiều thì giờ để
quán chiếu về cuộc đời mình. Những buổi
chiều tôi thích leo lên ngọn núi gần đó, ngồi dưới một cây cổ thụ, tận hưởng
làn gió mát. Nhìn xuống dòng suối bên dưới
và bãi sa mạc trải dài đến tận chân trời giúp tôi suy nghĩ thấu đáo. Một ngày kia tâm tôi tràn đầy các câu hỏi. Tại sao tôi luôn xúc động mỗi khi nhớ đến sự
tử tế của những người đã giúp đỡ tôi trong suốt cuộc hành trình của mình, những
người đã cho tôi ăn hay ngủ một hay hai đêm- nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy
như thế đối với sự tử tế của cha mẹ tôi.
Họ đã chăm sóc cho tôi suốt mười tám năm, cho tôi ăn từng ngày –ba hay bốn
lần một ngày- vậy mà họ vẫn lo rằng thức ăn không đủ ngon cho tôi. Họ đã cho tôi quần áo, chỗ trú ngụ. Khi tôi ấm đầu xổ mũi, họ đem tôi đi bác sĩ,
còn khi tôi bệnh nặng dường như họ còn khổ hơn tôi. Vậy tại sao tôi chẳng bao giờ xúc động với những
việc như thế? Bỗng nhiên tôi cảm thấy
mình bất công một cách đáng xấu hổ. Tôi
nhận ra rằng tôi đã coi thường sự hy sinh của cha mẹ biết bao nhiêu. Lúc đó, dường như có một bờ đê vừa vụt vỡ
tung. Nhiều tấm gương về lòng biết ơn
(boon khoon) của cha mẹ tôi, lòng độ lượng, tử tế của họ tràn đầy tâm trí tôi,
quá ấn tưọng, quá bao la. Đó là khởi đầu
cho lòng biết ơn của tôi đối với cha mẹ.
Tôi tiếp tục quán tưởng đến việc mẹ tôi hẳn
đã phải chịu bao khó nhọc khi mang thai tôi.
Lúc đầu chắc bà đã bị hành buồn nôn mỗi sáng, thời gian sau thì đi đứng
trở nên khó khăn. Mọi chuyển động đều
đau đớn và không thuận lợi. Nhưng mẹ tôi
đã chấp nhận cái khổ này vì bà tin rằng có điều gì đó rất đáng công, và điều gì
đó chính là tôi.
Khi còn nhỏ, việc gì tôi cũng phải nhờ đến
cha mẹ, vậy mà không hiểu sao tôi coi chuyện đó là bình thường –phải đâu bổn phận
của họ là phải cung cấp, cưu mang, còn tôi chỉ có quyền nhận? Sau cùng, tôi nhận thức được rằng tôi có
duyên được tu tập theo Phật giáo để phát triển một nơi nương tựa thực sự ở bên
trong, là nhờ cha mẹ đã tạo cho tôi một chỗ nương tựa bền vững, đáng tin cậy ở
bên ngoài khi tôi còn trẻ. Họ đã thiết lập
cho tôi một nền tảng vững chắc để tôi có thể toàn tâm toàn trí tu tập, chiến đấu
với uế nhiễm.
Năm 20 tuổi, tôi đến Thái Lan để thọ giới xuất
gia. Cha mẹ tôi không phản đối vì họ muốn
cho con trai có thể sống theo ý nó muốn và được hạnh phúc. Cha mẹ tôi đã chọn điều đó thay cho những kỳ
vọng họ đã đặt vào tôi. Năm ngoái, mẹ
tôi đã thú nhận rằng ngày tôi ra đi là ngày buồn nhất trong đời của mẹ. Nghe vậy tôi rất xúc động. Điều gây ấn tượng ở tôi là mẹ đã rất chịu đựng
và che giấu nỗi khổ đau này suốt hai mươi năm vì mẹ không muốn tôi phải bức rức
vì chuyện này.
Sau khi đã trở thành tu sĩ, đôi khi tôi
không thể không tự trách mình. Khi còn sống
bên cạnh mẹ cha, mỗi ngày tôi đều có cơ hội để làm điều gì đó, hầu đáp lại chút
tình thương mà họ đã dành cho tôi, nhưng tôi hầu như chẳng làm gì cả. Giờ tôi ước muốn bày tỏ lòng biết ơn bằng
trăm ngàn cách thì lại không thể vì tôi đã là tu sĩ và sống cách xa họ hàng
ngàn dặm. Thật tệ hại. Tôi chỉ còn có thể làm những gì mà các vị tu
sĩ vẫn làm hơn hai ngàn năm nay, là rải tâm từ đến cho họ mỗi ngày.
Ở Thái Lan chúng tôi thường nghĩ tưởng đến
‘boon khoon’ (công ơn) cha mẹ. Boon
Khoon là niềm tin rằng mỗi khi ta nhận được sự giúp đỡ, lòng tử tế của ai đó –nhất
là khi được ban tặng- là chúng ta đã mang một cái ơn. Thiện nhân là người biết trọng ơn nghĩa, và
ơn nghĩa sâu dày nhất trong tất cả mọi ơn nghĩa là ơn nghĩa đối với cha mẹ. Đức Phật đã dạy chúng ta phát triển lòng biết
ơn sâu sắc đến với cha mẹ, và ý hướng đáp trả ơn cha mẹ bằng những phương cách
tốt nhất mà chúng ta có thể thực hiện.
Lúc nhỏ, tôi đã không được dạy dỗ về các giá
trị này. Dĩ nhiên, trong nền văn hóa
phương Tây cũng có tình thương yêu, gắn bó giữa cha mẹ và con cái, nhưng nói
chung sự quan tâm, lòng biết ơn lẫn nhau thường ít được coi trọng. Trong khi các giá trị khác như là sự tự do cá
nhân, tính tự lập thì lại được chú trọng hơn.
Tình cảm thâm sâu, gắn bó giữa cha mẹ và con cái có thể cũng được nhiều
người cảm nhận, nhưng nó không được truyền thông rộng rải như một đạo lý chung
trong xã hội như trong văn hóa Phật giáo, thí dụ như ở Thái Lan.
Việc chúng ta phải coi trọng công ơn cha mẹ
có thể được tìm thấy trong giáo lý của Đức Phật về Chánh kiến trong đời sống thế
tục, nền tảng giúp ta hiểu điều này điều nọ trong cuộc sống. Trong kinh điển Pali, Đức Phật dạy rằng ta phải
tin rằng cha ta là thật, mẹ ta là thật.
Có thể bạn sẽ bỡ ngỡ khi đọc điều này phải không? Tại sao Đức Phật phải dạy chúng ta một điều
quá hiển nhiên? Có ai không biết rằng
mình được sinh ra trong cõi đời này là vì cha mẹ mình thực sự có?
Chúng ta cần phải hiểu rằng những lời dạy đó
chỉ là ẩn dụ thôi. Điều Đức Phật muốn dạy
là chúng ta cần phải biết rằng có một ý nghĩa đặc biệt trong quan hệ giữa cha mẹ
và con cái, một ý nghĩa mà ta phải chấp nhận và tôn trọng. Mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái thật sâu sắc
và huyền bí. Đức Phật dạy rằng không có
nghiệp báo nào nặng hơn hành động giết cha hay mẹ. Trong từ ngữ Pali đó là anantariya kamma
–nghiệp này nặng nề đến nỗi người gây nghiệp không thể nào tránh khỏi những hậu
quả gớm ghê, dầu người đó có thật tâm hối hận đến mức độ nào. Như thế khi Angulimala có thể trở thành một vị
A-la-hán dầu đã giết 999 người, thì điều đó sẽ không thể xảy ra nếu ông giết chỉ
một người, mà người đó là cha hay mẹ ông.
Đức Phật không dạy về mối liên hệ thâm sâu
này như là một phương tiện thiện xảo để quảng bá các giá trị trong đời sống gia
đình. Nhưng đó là một chân lý vượt thời
gian mà Ngài đã khám phá ra và sau đó truyền dạy lại vì lợi ích của chúng
sanh. Giáo lý quan trọng đó dạy rằng mối
liên hệ giữa cha mẹ và con cái rất sâu dày và có thể đã diễn ra qua nhiều kiếp
sống. Do đó, chúng ta phải chấp nhận,
tôn trọng, và gìn giữ mối liên hệ đó.
Tóm lại, có thể nói rằng chúng ta được sinh
ra trong kiếp này là để tiếp tục ‘công việc còn dang dở’ đối với mẹ cha. Có khi công việc còn dang dở này được thể hiện
ra một cách không tốt đẹp, như khi đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi, hay bị cha mẹ bạo
hành thân xác hay tâm hồn. Có những hoàn
cảnh như thế, và dường như ngày càng nhiều hơn.
Nhưng những điều tệ hại mà cha mẹ có thể mang đến cho con cái như thế
cũng không xóa bỏ được mối liên hệ thâm sâu này. Kiếp sống này chỉ như là một cảnh trong một
trường kịch, chúng ta không biết điều gì đã xảy ra trong những kiếp quá khứ. Sống trong một xã hội nhân ái, dĩ nhiên chúng
ta phải làm mọi cách để bảo vệ trẻ em khỏi bị xâm phạm. Chúng ta phải tỏ rõ việc không thể chấp nhận
những điều đó, và phải đối xử với các bậc cha mẹ phạm tội này đúng theo quy luật
xã hội hiện hành. Nhưng đồng thời chúng
ta cũng phải bảo vệ tâm khỏi sự sân hận và thất vọng bằng cách tự nhắc nhở rằng
chúng ta chỉ thấy một phân cảnh ngắn của một thiên trường kịch phức tạp, mà nhiều
thứ đều xa tầm mắt nhìn của ta. Quán chiếu
dựa trên chân lý này giúp nạn nhân của những việc bạo hành, xâm phạm có thể tìm
được phương cách để tha thứ cho những người có liên quan.
May thay, có rất ít các cha mẹ hoàn toàn nhẫn
tâm với con cái. Theo các kinh điển, phần
đông cha mẹ đều như các đấng Phạm Thiên đối với con cái, với tình thương yêu
không lay chuyển, với tâm từ bi và niềm hoan hỷ. Trong một số kinh, Đức Phật đã dạy chúng ta
làm thế nào để đáp trả tấm lòng trời biển của cha mẹ. Một trong những bài kinh nổi tiếng nhất là
bài Sáu Phương Hướng (The Six Directions), mà Đức Phật đã thuyết để dạy thanh
niên Sigalaka. Một đoạn kinh đó nói:
Này thanh niên
Sigalaka (Thi Ca La Việt), người con phải xem cha mẹ là ở về hướng Đông (tự nhủ
lòng), có năm việc phải làm:
- Đã được cha mẹ
chăm sóc, tôi phải chăm sóc lại họ
-Tôi sẽ giúp đỡ
cha mẹ trong công việc của họ
-Tôi sẽ gìn giữ
danh dự và truyền thống gia đình.
-Tôi phải cố gắng
để xứng đáng với gia tộc.
-Tôi sẽ dâng
cúng phẩm vật, hồi hướng công đức cho cha mẹ sau khi họ qua đời. (Trường Bộ Kinh III.189-192)
Giáo lý trong kinh này phản ảnh cấu trúc lý
tưởng trong một xã hội Phật giáo. Kinh
nhấn mạnh vào trách nhiệm của mọi người đối với nhau, vào bổn phận hơn là quyền
lợi. Thật ấm lòng khi biết ngày nay vẫn
có nhiều người ở Thái Lan cố gắng tu tập theo những lời dạy trên. Nhưng có một bản kinh khác mà tôi muốn nhắc đến
ở đây, dầu nó ít được biết đến và ít được thực hành theo hơn. Trong bản kinh đó đức Phật dạy rằng dầu cho
con cái có cõng cha mẹ trên hai vai, trong khoảng trăm năm, chu cấp cho họ cao
lương mỹ vị mà họ ưa thích, tắm rửa họ, để họ bài tiết trên vai mình, hay dâng
cho họ tài sản lớn, đem lại cho họ những vị trí cao sang, quyền lực –dầu con
cái đã làm tất cả những điều đó cho cha mẹ, cũng không thể trả đủ công ơn mà
cha mẹ đã làm cho con cái.
Tuy nhiên, nếu cha mẹ không có hoặc ít có
lòng tin vào Phật pháp, thì người con có thể khơi dậy lòng tin đó nơi cha mẹ,
hoặc nếu cha mẹ không biết tuân giữ giới hoặc trì giới không nghiêm mật mà người
con có thể giúp cha mẹ chuyển đổi, sống đạo đức: thí dụ người con có thể giúp
cha mẹ keo kiệt tìm được niềm vui trong việc bố thí, giúp đỡ người khác hay
giúp cha mẹ phát triển trí tuệ để chiến thắng tâm uế nhiễu, chấm dứt khổ đau,
thì người con đó đã hoàn thành được những nhiệm vụ được coi là thực sự trả được
công ơn mà người đó đã mang đối với cha mẹ.
Có rất nhiều điều cần bàn đến trong bài kinh
này. Trước hết, tôi nghĩ là đức Phật đã
chỉ ẩn dụ. Vì hãy thử hình dung làm sao
bạn có thể chăm bón cha mẹ khi họ ngồi trên vai bạn. Hơn nữa bạn sẽ không thể chịu nổi sức nặng của
họ trên vai trong năm phút, nói gì đến một trăm năm. Nhiều bà mẹ (như là mẹ tôi chẳng hạn) chắc chắn
sẽ không muốn trèo lên đó vì họ sợ té gãy tay, gãy chân. Đức Phật đã sử dụng những hình ảnh đó để ta
thấy rằng, dẫu ta có thể làm được những chuyện không thể tưởng tượng như thế
thì vẫn chưa đủ trả ơn cha mẹ, nói gì đến những điều ta đang làm cho họ hiện
nay. Ngài muốn cho chúng ta thấy rằng ơn
cha mẹ thật vô cùng to tát, cho nên dầu ta có chăm lo cho cha mẹ bao nhiêu bằng
những cung cách bình thường thì cũng vẫn không đủ, vẫn giống như chúng ta chỉ
trả phần lãi của món nợ. Khi chúng ta mắc
nợ, chủ nợ không quan tâm chúng ta đã trả được bao nhiêu nợ trong quá khứ,
nhưng là chúng ta còn phải trả họ bao nhiêu trong tương lai. Tương tự, khi nghĩ đến công ơn cha mẹ, thay
vì nhớ đến bao nhiêu điều chúng ta đã làm cho họ trong quá khứ, hãy nghĩ đến những
gì ta còn chưa làm cho họ, những gì ta còn nợ họ. Món nợ ta mang từ cha mẹ không phải là thứ nợ
bình thường, mà là một bổn phận thiêng liêng.
Đức Phật dạy chúng ta rằng ngoài những điều
ta cần làm cho cha mẹ như đã ghi trong kinh Sáu Hướng (The Six Directions), người
Phật tử còn cần phải sách tấn cha mẹ làm điều thiện. Người con cần phải cố gắng để làm một ‘bạn
lành’ (kalyanamitta) đối với cha mẹ.
Do đó, chúng ta có thể thấy rất rõ ràng ở
đây là, một xã hội Phật giáo là nơi mọi người cố gắng để trở thành bạn tốt của
nhau. Cha mẹ cần cố gắng làm bạn tốt đối
với con cái, và con cái cũng phải cố gắng làm bạn lành đối với cha mẹ mình.
Anh chị lớn cần cố gắng làm bạn tốt với các
em của mình, và ngược lại các em cũng cần làm thế với anh chị mình. Người chồng cần cố gắng làm thiện hữu tri thức
đối với vợ, và vợ cũng phải là bạn lành của chồng mình. Chúng ta cần giúp đỡ
nhau trong việc làm giảm bớt đi những tình cảm tiêu cực trong lòng và cùng nhau
tạo ra một đời sống, một xã hội dựa trên từ, bi và trí tuệ.
Trong bài kinh trên, đức Phật kê ra bốn đức
hạnh. Giờ tôi xin lặp lại và khai triển
thêm về ý nghĩa của chúng.
Saddha(Tín Tâm) là niềm tin rằng đức Phật là
một chúng sanh hoàn toàn giác ngộ, rằng giáo lý của Ngài là chân lý, và chúng sẽ
đem lại giải thoát cho những ai thực hành chúng nghiêm mật. Đó là niềm tin rằng có những người hành theo
lời Phật dạy một cách đầy đủ và nhờ đó được giải thoát. Đó là niềm tin rằng trong tất cả chúng sanh ở
cõi ta bà này, những chúng sanh cao thượng đã được giải thoát này là đáng được
coi trọng nhất. Đó là niềm tin rằng với
tư cách là một chúng sanh, chúng ta có quyền đối với nghiệp của chính mình: sự
việc có tốt hay xấu, chúng ta trải nghiệm khổ đau hay hạnh phúc, đều tùy thuộc
vào chúng ta. Cuộc sống của chúng ta
không tùy thuộc vào thần linh, ma quỷ, chư thiên, thượng đế hay quyền lực thần
bí nào, mà tùy thuộc vào chính thân, khẩu và ý của chúng ta –cả trong quá khứ
và quan trọng nhất, là trong hiện tại.
Saddha chính yếu có nghĩa là niềm tin vào khả năng giác ngộ của chúng
ta, và tin tưởng rằng việc quan trọng nhất trong cuộc đời của một chúng sanh là
giải thoát khỏi khổ đau và gốc khổ đau.
Sila (đạo hạnh hay giới luật) là nét đẹp, sự
thánh thiện trong hành vi. Nó là khả
năng kiềm chế lời nói hay hành động gây hại cho mình hay cho người. Sila là sự giải thoát khỏi nghiệp xấu gây ra
qua thân hay khẩu. Sila càng thêm vững bền
khi chúng được bảo vệ bởi cảm giác xấu hổ đầy ý thức đối với những hành động bất
thiện (hiri), và sự sợ hãi đầy ý thức về các nghiệp quả của những hành động như
thế (ottappa). Sila tạo ra các chuẩn mực
đạo đức cần thiết cho những ai quyết tiến xa trong Phật pháp.
Caga (Xả, rộng lượng) muốn nói đến sự xả ly
khỏi vật chất, hoan hỷ trong sự xả bỏ, từ bi, và giúp đỡ người khác. Người có tâm xả bỏ thường tử tế, quan tâm đến
người, chứ không keo kiệt hay tự mãn.
Panna (trí tuệ) là cái biết phân biệt được
khổ đau và những uế nhiễm tạo ra khổ đau.
Con người luôn phải đối mặt với khổ đau, dầu không ai muốn có chút đau
khổ nào. Chúng ta khổ vì chúng ta không
biết khổ phát khởi như thế nào và làm sao để dừng nó lại. Tại sao chúng ta không biết? Bởi vì chúng ta không hiểu bản thân mà chúng
ta cũng không cố gắng để hiểu hết sức mình.
Khi nào chúng ta còn không hiểu bản thân thì chúng ta sẽ luôn là nạn
nhân của cảm xúc. Điều đó giống như bạn ở
trong căn phòng tối với một con rắn độc.
Liệu ta có thể đi qua lại trong một căn phòng như thế mà không bị rắn cắn? Chỉ việc tránh đụng chạm bàn ghế đã là khó.
Ở giai đoạn bắt đầu, trí tuệ dựa trên tưởng. Nhờ sự vận hành của ký ức mà ta có thể tàng
trữ những điều mình đã được nghe, được đọc về Phật pháp. Chúng ta điều kiện hóa cảm xúc của mình –cả tốt
lẫn xấu- bằng tưởng và ý nghĩ. Những ai
từng lắng nghe Pháp và nhớ đến chúng, có thể quán tưởng về Pháp cho đến khi
thông đạt, rồi sau đó họ có thể thiết lập con đường của sự suy nghĩ chín chắn. Đã được huân tập bằng cách đó, khi tâm rơi
vào một trạng thái bất thiện, nó không hoàn toàn trở nên hoảng loạn, nó không
rơi vào hố sâu, nó có thể nhanh chóng tự điều chỉnh lại. Một người chưa hề biết đến Phật pháp, khi bị
đối xử bất công, thì người đó thường trở nên giận dữ, thất vọng. Nhưng với người đã biết Pháp, người đó có thể
suy nghĩ rằng ngay chính đức Phật còn bị lăng nhục, làm hại, thì làm sao ta có
thể tránh khỏi điều đó? Quán tưởng được
như thế sẽ giúp ta có thể chấp nhận hoàn cảnh.
Bằng phương cách hồi tưởng lại những suy nghĩ khôn ngoan, chúng ta có thể
bắt đầu buông bỏ các tình cảm tiêu cực, bắt đầu tách xa sự sa đà vào rượu và chất
gây ghiện. Giai đoạn có trí tuệ phân biệt
giữa tốt và xấu, giữa cái có ích và cái có hại.
Nó giúp chúng ta có một cái nhìn thực tế, bình tĩnh về cuộc đời và thế
giới. Nhưng nó cũng không phải là chốn
nương trú an toàn, nhất là khi ta phát khởi các cảm xúc mãnh liệt. Ở một mức độ cao hơn của panna là trí tuệ
mang đến kiến thức và sự hiểu biết trong tâm của những ai giữ được giới luật
thanh tịnh và định kiên cố (Samadhi). Ở
giai đoạn này, trí tuệ không còn là suy nghĩ.
Nó nhanh hơn suy nghĩ nhiều, nó giống như một chiếc siêu phản lực, bay
nhanh hơn cả âm thanh. Trí tuệ là thấy
được sự vật rõ ràng như chúng thực sự là, đến nỗi chúng ta không còn muốn bám
víu vào chúng như là tôi hay cái của tôi.
Đó là trí tuệ cuối cùng có thể khám phá được sự thật là tất cả mọi thứ,
kể cả tư tưởng, tình cảm của ta, đều thuộc vể thiên nhiên, không có ai là chủ
thể. Đó là trí tuệ nhận thức ra rằng cuộc
đời của chúng ta không phải là một thành lũy trên đất hoang hóa, mà là một dòng
sông chảy êm ả qua khu vườn đời. Khi
chúng ta phát triển trí tuệ để nhìn ra được điều ấy, chúng ta có thể buông xả. Đức Phật dạy rằng việc khơi dậy lòng tin,
hành vi đạo đức, tâm xả và trí tuệ trong lòng cha mẹ là cách phục vụ cha mẹ tốt
nhất, nhưng Ngài cũng không bỏ qua những cách phục vụ, chăm sóc cơ bản
hơn. Phật dạy rằng người con tốt phải biết
chăm sóc cha mẹ. Việc chăm sóc này có thể
bắt đầu bằng vật chất, nhưng đó không phải là tất cả. Tặng quà cáp hay tạo cho cha mẹ sự thoải mái
là biểu hiện của tình thương yêu, nhưng đó không phải là bằng chứng của tình
thương yêu, và ta không thể dùng chúng để thay thế cho tình thương yêu thực sự.
Cách hành xử của con cái đối với cha mẹ thay
đổi theo từng gia đình, vì điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố; thí dụ như số
con cái trong gia đình, độ tuổi của con cái; con cái còn sống trong gia đình
hay đã ra riêng, ở gần hay ở xa cha mẹ, vân vân.
Khi cha
mẹ già yếu, người con có hiếu phải chăm sóc họ.
Nếu thực sự điều này không khả thi (chứ không phải là viện lý do), thì họ
phải thăm viếng cha mẹ thường xuyên, hay chí ít cũng phải gọi điện thoại hay viết
thư thăm hỏi cha mẹ đều đặn, cũng như thông tin cho cha mẹ biết cuộc sống của
mình thế nào. Biết rằng con cái vẫn tưởng
nhớ, quan tâm đến mình là liều thuốc có thể mang đến cho cha mẹ tâm bình an, liều
thuốc này còn hiệu lực hơn cả các loại thuốc do bác sĩ kê toa. Chúng ta phải giúp đỡ cha mẹ trong tất cả khả
năng của mình. Khi cha mẹ đau yếu, nếu
ta có thể giúp tiền chữa bệnh thì quá tốt, nhưng nếu ta nghèo, không thể làm điều
đó thì hãy mang đến cho cha mẹ những gì ta có –thí dụ như thời gian. Hãy ngồi bên họ, đọc cho họ nghe hay chăm sóc
họ theo cách tốt nhất mà chúng ta có thể làm (thí dụ tắm rửa, làm vệ sinh, đút
ăn hay bóp tay bóp chân cho họ) –những việc làm này đối với cha mẹ đôi khi còn
giá trị hơn tiền bạc hay bất cứ món quà vật chất nào mà ta dành tặng cho họ.
Bài kinh mà tôi dẫn ở trên cho ta thấy rằng
yếu tố lớn nhất để tạo ra hạnh phúc hay khổ đau trong cuộc đời chúng ta là tư
tưởng và cảm xúc hay nói cách khác chính là tâm chúng ta. Vì lý do đó đức Phật dạy rằng những ai có thể
giúp cha mẹ mình phát triển các đức tính thiện lành và trải nghiệm được các trạng
thái tâm hỷ lạc thì người đó được vô vàn công đức. Đó là cách trả ơn khiến cha mẹ chúng ta được
có món quà vô giá.
Chúng ta cảm thấy hạnh phúc khi mang đến cho
cha mẹ những món quà vật chất, hay đối xử đặc biệt với họ, thí dụ, dẫn họ đi ăn
tiệm hay đi chơi vào những ngày lễ, nhưng các loại quà tặng đó luôn có giới hạn. Đặc biệt là các thứ quà vật chất, chúng có thể
bể, tan hoại và còn có thể là nguyên nhân đưa đến sự bất ổn cho những người già
đến nỗi chúng có thể là con dao hai lưỡi.
Sự chăm sóc, lo lắng cho cha mẹ chỉ giúp họ ngay trong kiếp sống
này. Vì thế đức Phật dạy rằng bên cạnh
những cách bày tỏ tình thương yêu, lòng biết ơn đáng tán thán như vậy đối với
cha mẹ, chúng ta không nên coi nhẹ việc lo cho phần tâm linh của họ. Những hạnh lành phát xuất từ trong lòng cha mẹ
hoàn toàn không có mặt tiêu cực. Chúng
không dựa vào các điều kiện bên ngoài, không ai có thể tước đoạt chúng, và
chúng là tư lương cho kiếp sống tương lai.
Vì lý do đó, đức Phật gọi các đức tính bên trong ta là tài sản cao thượng,
là của cải quý báu. Chúng tối cao vì
chúng là phương tiện giúp ta đạt được sự cao thượng thực sự của việc được hoàn
toàn giải thoát khỏi khổ đau. Chúng ta cần
mang thật nhiều hạnh phúc và sự thoải mái đến cho người ân của mình, nhưng đồng
thời cũng đừng quên những thứ cao xa hơn thế.
Làm giảm những khổ đau mà cha mẹ ta phải gánh chịu khi lang thang trong
cõi luân hồi vẫn không bằng làm giảm thiểu các nhân gốc gây ra khổ đau đó.
Tóm lại, những quy tắc trong Phật giáo về vấn
đề làm thế nào để trả món nợ thâm tình mà chúng ta mang đối với cha mẹ tùy thuộc
vào những điều chúng ta tin. Thí dụ:
Luân hồi tái sinh là khổ, và được giải thoát
khỏi sinh tử mới là chân hạnh phúc.
Tái sinh là do ái nhiễm (kilesa)
Chúng
sanh có thể diệt trừ ái nhiễm, nên chúng ta phải làm được điều đó.
Buông bỏ uế nhiễm, vung trồng hạnh lành là
cách tu tập đưa đến chân hạnh phúc.
Vấn đề là: làm thế nào chúng ta có thể
khuyên cha mẹ vung trồng tín tâm, giới hạnh, từ bi và trí tuệ như lời Phật dạy? Chúng ta cần chuẩn bị tinh thần để đón nhận
thất bại. Có thể chúng ta không thực hiện
được tất cả, hay chỉ đạt được phần nào kết quả.
Con chúng ta, “những cành non” còn khó uốn, thì “cây già” làm thế nào dễ
được?[1] Vì thế đừng bực bội hay bức xúc
đối với cha mẹ, đừng bỏ rơi họ, nếu không tâm bạn sẽ u ám, đầy tiêu cực. Thường không ai muốn thay đổi. Vì thế hãy hành động, cư xử tế nhị, khôn
khéo, và đừng đặt quá nhiều kỳ vọng. Hãy
làm vì đó là bổn phận con cái phải làm, nhưng đừng để tâm chúng ta bất an khi
đang làm việc tốt.
Điều quan trọng là chúng ta phải làm gương
cho cha mẹ. Giống như câu, “Hành động
còn lớn tiếng hơn lời nói”, nên đôi khi cách tốt nhất để thuyết phục người khác
không phải bằng lời nói. Nếu chúng ta có
thể để cho cha mẹ thấy được những lợi ích mà chúng ta đạt được khi hành theo Phật
pháp; nếu họ có thể thấy trong ta những đức tính từ bi, trầm tĩnh, yêu thương,
kiên trì và chu đáo, thì họ có thể có được tín tâm và động lực để thực hành
theo. Tóm lại, nếu chúng ta muốn giúp đỡ
cha mẹ, thì đồng thời chúng ta cũng phải tự giúp mình.
Có lẽ điều dễ nhất
là giúp cha mẹ chúng ta vung trồng đức tính thứ ba: xả, vì điều này cũng được đề
cao trong xã hội Thái. Tôi không thể
nghĩ là có một đất nước nào trên thế giới mà người dân nơi đó lại hoan hỷ trong
việc bố thí hơn là ở Thái Lan này. Một
người con tốt sẽ mời cha mẹ cùng đi cúng dường, dâng tặng phẩm vật cùng với
mình đề thực sự làm lợi ích cho Phật pháp và cho xã hội nói chung. Chúng ta cần phải có trí tuệ trong việc lựa
chọn địa điểm và phẩm vật cúng dường hay bố thí. Thí dụ, nếu cúng dường cho tăng đoàn, ta cần
phải biết là kinh Luật cấm người tu sĩ được đòi hỏi người cư sĩ tại gia không
có liên hệ với mình, bất cứ điều gì, trừ
trường hợp người cư sĩ đó đã trang nghiêm thỉnh cầu (pavarana) vị tu sĩ làm thế. Bạn không nên cảm thấy áy náy, áp lực nếu người
tu sĩ muốn kêu gọi bạn cúng dường cho họ.
Làm thế là vị ấy đã phạm giới, nên ta không cần phải sợ gây ra ác nghiệp
nếu như ta không làm theo lời yêu cầu. Trái lại, bố thí, cúng dường trong trường hợp
này không được công đức gì vì ta đã hỗ trợ cho hành vi trái đạo và bôi nhọ tăng
đoàn của người tu sĩ. Hãy trao tặng, bố
thí phẩm vật phù hợp –giá trị của món đồ không tương ưng với công đức được tạo-
và trao tặng trong cung cách để bạn có thể cảm nhận được niềm vui trước, trong
khi và sau khi hành động. Ít có điều gì có thể làm cho sự gắn bó giữa các thành
viên trong gia đình tốt đẹp thêm bằng việc cùng nhau làm điều thiện như bố thí.
Thêm nữa, chúng ta cũng có thể làm gương cho
cha mẹ bằng cách sống giản dị, không tiêu xài phung phí và không mê đắm vật chất
quá mức. Nhắc nhở cha mẹ bằng cách đó
(chứ không phải bằng cách thuyết giảng cho họ), có thể khiến cho họ xét lại
thái độ của họ đối với vật chất. Chúng
ta có thể là tấm gương để cha mẹ soi lại bản thân và như thế là chúng ta đã biết
cách phụng sự cha mẹ, vì được giải thoát khỏi sự bám víu vào vật chất là một ý
nghĩa khác của thuật ngữ caga (xả). Có
những người cha khi nhìn thấy một chiếc xe xịn đời mới thì cũng háo hức như mấy
cậu choai choai, ngược lại cũng có những bà mẹ khi ngắm những chiếc áo thời
trang hiện đại, cũng xuýt xoa như các cô gái trẻ.
Do lòng ham muốn hưởng thụ vật chất cuồng
nhiệt, ngày nay không còn là chuyện lạ khi các vị trung niên có những hành động
mà các vị lão niên ngày xưa sẽ coi là thiếu chín chắn. Do đó chính là việc chúng ta biết khi nào để
dừng, biết đâu là đủ, có thể nhắc nhở cha mẹ chúng ta làm theo.
Mặt khác, cũng tùy theo cá tính của người
làm cha mẹ. Nếu cha mẹ là người thỉnh
thoảng cũng biết đến chùa, nghe Pháp, thì khá dễ cho chúng ta đàm luận những vấn
đề có ý nghĩa với họ khi có cơ hội.
Nhưng nếu họ không quan tâm đến Phật pháp; nếu họ vẫn còn đầy đủ sức khỏe
và chưa bao giờ nghĩ đến cái chết không thể tránh khỏi, thì họ có thể sẽ khó chấp
nhận. Những vị xem các phiền não của
mình như của quý, như một thứ gì đó thêm gia vị vào đời sống của họ, sẽ cảm thấy
Phật pháp như là can thiệp vào cuộc sống của họ, và họ sẽ cố gắng tránh né hay
chối bỏ nó. Trong trường hợp này, chúng
ta phải chấp nhận và tôn trọng quyền tự do của họ. Đừng cằn nhằn hay o ép họ. Phật pháp không phải là thứ mà bạn có thể đem
áp đặt lên người khác, dầu bạn muốn cho họ được lợi ích. Nếu cha mẹ ta có không chấp nhận Phật pháp,
chúng ta cũng phải cho qua trong lúc này, và lúc nào cũng sẳn lòng, cũng hoan hỷ
để chia sẻ với họ những gì ta có thể bất cứ khi nào, nếu như họ có đổi ý.
Riêng đối với những bậc cha mẹ có ý hướng muốn
tìm hiểu Phật pháp, chúng ta có thể đem họ đến chùa để họ tạo công đức, nghe
Pháp, và hành thiền trong không gian tĩnh lặng.
Nếu họ vẫn còn mê tín về bùa phép, bói toán, đồng bóng, phù thủy, vân
vân, thì nên trao đổi với họ khi có thể.
Tuy nhiên, bạn cần phải trao đổi đúng nơi, đúng lúc, đừng làm cho cha mẹ
cảm thấy là bạn hiểu biết hơn họ, là bạn khôn ngoan hơn họ. Hãy khuyến khích họ thường xuyên tập thể dục:
Khí công rất tốt vì nó cũng là một hình thức thiền tập. Hãy tìm cho họ những quyển sách hay về Phật
pháp để họ đọc, hay những băng đĩa về Phật pháp để họ nghe. Trao đổi với họ về sinh, già, bệnh và chết một
cách tự nhiên, để họ thấy đây không phải là những đề tài ta cần tránh né khi
trò chuyện. Tín tâm và trí tuệ phát khởi
từ sự can đảm đối mặt với những sự thật trong cuộc sống. Không phải là ta có thể trốn tránh những sự
thật này chỉ bằng cách phớt lờ chúng.
Điều quan trọng cần phải nhớ là đức Phật
không dạy rằng một người con tốt là phải làm tất cả những gì cha mẹ bảo hay yêu
cầu ta làm. Từ chối không làm như cha mẹ
muốn không phải lúc nào cũng sai. Vì
sao? Vì có những cha mẹ bảo hay bắt con
cái phải làm những điều không hợp đạo lý.
Nếu cha mẹ bảo chúng ta làm những việc phạm pháp hay tạo các ác nghiệp
như uống rượu, cờ bạc, thì không có gì sai, nếu ta trái ý họ. Chúng ta không chỉ có bổn phận báo ơn đối với
cha mẹ. Chúng ta còn là con của Phật, và
lòng từ bi của Ngài đối với chúng sanh còn lớn hơn các bậc cha mẹ. Do đó bổn phận báo đáp của chúng ta đối với
Ngài còn phải to lớn hơn. Vì vậy nếu những
nỗ lực để bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với cha mẹ trái ngược lại với
nguyện ước được làm việc thiện và sống chân thật, thì người trí, với sự cẩn trọng,
từ tốn nhất, nên đem những gì đúng, thiện lành làm kim chỉ nam cho mình. Làm người con hiếu thảo đối với cha mẹ không
có nghĩa là bằng mọi giá phải làm theo ý họ.
Tuy nhiên, chúng ta phải có những quy tắc rõ ràng, đúng đắn và phải cố gắng
trung thực, không được tỏ ra vô cảm, cứng nhắc.
Nếu có thì giờ vào buổi sáng hay chiều, hãy
mời cha mẹ cùng tụng kinh hay hành thiền với bạn. Sự bình an, tĩnh lặng mà ta có thể trải nghiệm
qua thiền tập mang đến cho ta hạnh phúc, sức mạnh và sự sáng suốt tuyệt vời. Người có tâm bình lặng thường được sống lâu
vi sức mạnh của tâm bình ổn có thể chế ngự sự buồn phiền, ưu tư và lo lắng làm
suy yếu hệ thống miễn nhiễm của chúng ta.
Nếu cha mẹ chúng ta biết tập hành thiền cho đến khi trở thành nhuần nhuyễn,
thì họ sẽ có được chốn nương tựa nội tại vững chải khi họ bệnh hoạn.
Công phu thiền tập của chúng ta chỉ có hiệu
quả khi nó được phát triển cùng với nỗ lực kiềm chế lời nói và hành động. Một phương cách dễ dàng để giúp cha mẹ giảm
thiểu các uế nhiễm của họ là đừng đắm chìm vào những câu chuyện bất thiện với họ. Thí dụ, nếu cha mẹ ta bắt đầu nói dèm pha hay
nói xấu ai đó thì chúng ta chỉ cần giữ im lặng.
Nếu chúng ta không góp chuyện hay hùa theo, thì họ sẽ sớm nản lòng với
những chuyện đó và có thể sẽ có được chút ít tỉnh giác.
Con cái khi còn sống trong gia đình phải giữ
thái độ trung dung, không bênh vực bên nào khi thỉnh thoảng giữa cha mẹ có xảy
ra sự cãi vả. Trong lúc căng thẳng, cả
hai cha mẹ thường cố gắng kéo con cái về phía mình. Người con biết đạo sẽ không để tình huống này
xảy ra, mà cố gắng làm người hòa giải công bằng. Chúng ta lúc đó phải cố gắng xoa dịu người
đang giận dữ, và cần cẩn thận để không nói hay làm điều gì khiến tình thế thêm
phức tạp. Chúng ta cần cố gắng giúp cha
mẹ hóa giải những sự khác biệt, dằn co giữa họ mà không để cho bên nào cảm thấy
là mình thắng cuộc hay thua cuộc. Chúng
ta cần kiên nhẫn lắng nghe cha mẹ càu nhàu, than vãn. Lắng nghe cha mẹ, giảng hòa khi họ tranh cãi,
khuyến khích họ nói lời chánh ngữ: đây cũng là những cách mà chúng ta có thể
dùng để trả công ơn mà ta đã nợ cha mẹ.
Nếu chúng ta có thể làm bạn lành đối với cha
mẹ trong một thời gian dài, thì họ sẽ bắt đầu tin cậy, nể trọng ta ngày càng
nhiều hơn. Ảnh hưởng của chúng ta đối với
họ và cơ hội để hướng dẫn họ hành thiện sẽ ngày càng tăng trưởng. Nhưng việc này cần có thời gian, chúng ta
không nên vội vã. Chúng ta cũng cần ghi
nhận là bản thân mình đã được lợi ích như thế nào từ những nỗ lực trên vì ta cần
rất nhiều nhẫn nại để đối xử với người lớn tuổi đúng cách. Vì lớn tuổi, người ta thường trở nên khó chịu,
hay quên và hay cằn nhằm. Chúng ta dễ bực
mình vì những điều này khi ở bên họ, vì thế chúng ta cũng cần có chánh niệm để
duy trì nội tâm bình ổn. Do đó, bằng
cách giúp đỡ cha mẹ, chính là ta cũng tự giúp bản thân.
Thật ra sống trên thế giới này là ta đã nhận
rất nhiều ân sủng. Chúng ta có trồng thực
phẩm mà mình dùng hôm nay không? Do đâu
mà chúng có? Chúng ta có tự may bộ quần
áo mình đang mặc không? Vải vóc từ đâu
mà ra? Chỉ một mảnh vải sợi cũng cần phải
có người trồng vải sợi, người hái trái vải, người dệt vải, thợ may, người thiết
kế, người chế tạo ra máy dệt và máy may.
Nếu ta sử dụng điện thoại, xem truyền hình hay ngồi trong xe hơi, là
chúng ta đã dựa vào trí thông minh, tính cần cù của bao nhiêu người trong bao
nhiêu xứ sở? Biết trân trọng nguồn gốc của
những gì mình sở hữu có thể giúp tâm ta lắng đọng và giúp ta cảm nhận về mối
liên chằn chịt giữa con người trên thế giới này với nhau, mà mắt thường sẽ
không nhìn thấy được.
Chúng ta không chỉ phải hàm ân người đồng loại
mà cũng phải mang ơn cả những sinh vật khác.
Thí dụ, nếu không có sâu bọ ăn đất, chúng ta sẽ không thể trồng trọt, mà
không có canh nông thì con người cũng không thể tồn tại. Vì thế chúng ta cũng mắc nợ sâu bọ. Rồi đến những con trâu nước, bò, và nhiều giống
thú nuôi khác. Có bao giờ chúng ta cảm
thấy hàm ân chúng không?
Thật ra, tôi còn nghĩ là nếu con người biến
mất khỏi mặt đất, chắc là tất cả các sinh vật khác sẽ tụ hội lại mà reo hò đến
khản tiếng. Con người quả thật rất vô
ân: chúng ta tàn phá thiên nhiên, làm hao mòn tài nguyên thiên nhiên, và gần
như biến trái đất thành nơi không thể sống –tất cả chỉ vì lợi ích cá nhân. Đằng sau những hành động đó là ảo tưởng rằng
chúng ta là chủ trái đất này, nên không
có trách nhiệm gì đối với các sinh vật và cây cối đang cùng sống trên đó. Là người Phật tử, chúng ta cần phải có trí tuệ
hơn thế, vậy mà phần đông cũng hấp thụ một cách vô thức theo phương Tây cách
nhìn cuộc đời điên rồ như thế. Kết quả
là chúng ta sống vô cảm. Trong tương lai
chúng ta và con cháu chúng ta sẽ phải hứng chịu hậu quả từ những nghiệp do ta tạo
ra ngày hôm nay, vậy chúng ta còn trách được ai ngoài bản thân? Giờ cũng không quá trể để sửa chữa vấn đề,
nhưng chúng ta cần phải thay đổi thái độ để có thể nhận thức sâu rộng về sự tử
tế và ân sủng mà trái đất này ban tặng cho ta.
Chúng ta cần hợp tác, cần đoàn kết để làm giảm thiểu sức mạnh của tánh
ích kỷ của con người. Và chúng ta có thể
bắt đầu điều đó trong chính gia đình của mình.
Đức Phật dạy rằng thật khó để tìm được ai
không từng là cha, mẹ, anh, chị, em của chúng ta trong những kiếp sống trước. Do đó, khi quán chiếu về công ơn ta mang đối
với cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình, thì hãy nhớ đến lời dạy
này. Hãy nỗ lực thêm để bày tỏ lòng biết
ơn đối với tất cả nhân loại. Hãy huân tập
để làm bạn lành đối với tất cả những ai ở quanh ta và trên trái đất ta đang sống.
Cuối cùng, xin nguyện cho tất cả được sống
làm người bạn lành. Hãy là bạn lành đối
với bản thân bằng cách chỉ hành động, nói năng và suy nghĩ những điều tốt lành
cho bản thân và cho người. Hãy là bạn
lành đối với những người đã giúp bạn, nhất là cha mẹ mình. Hãy mang đến cho họ những gì bạn có thể, hãy
giúp họ sao cho xứng đáng với những gì họ đã giúp bạn. Quan trọng nhất là, với sự gia hộ của Tam Bảo,
mong rằng các bậc cha mẹ và tất cả chúng ta luôn được tăng trưởng, được sung
túc trong các hạnh lành của tín tâm, giữ giới, bố thí và trí tuệ.
Diệu Liên Lý Thu
Linh
(chuyển ngữ theo
sách Daughters & Sons, với sự đồng ý của ngài Ajahn Jayasaro, thông qua
Monastery Secretary Amaravati, ngày 25.8.2014).







