Sưu tầm từ Internet


Sự quý giá của việc sống chân thành: Luôn có thể ngủ thật bình yên…


“Lòng tốt là thứ người điếc có thể nghe và người mù có thể thấy” nên chỉ cần bạn chân thành thì điều nhận lại không chỉ là niềm vui. Hãy sống nhẹ nhàng, chân thành với tất cả; cứ chân thành cho đi rồi sẽ nhận lại yêu thương…
Ở một khu phố nọ có một bé trai và một bé gái hay chơi cùng với nhau. Cậu bé có một bộ sưu tập những viên bi thủy tinh đủ màu sắc còn cô bé có những viên kẹo ngọt xinh xắn và ngon mắt.

Một hôm cậu bé bảo cô bé rằng nếu cô bé cho cậu tất cả số kẹo của cô, cậu sẽ tặng lại cho cô bé tất cả số bi của cậu.

Cô bé vui vẻ đưa tất cả số kẹo của mình như đã hứa để nhận lấy những viên bi trong veo đủ màu sắc từ tay cậu bé. Nhưng có một điều mà cô bé không biết là cậu bé đã giấu đi những viên bi đẹp nhất của mình và đưa phần còn lại cho cô…

Đêm đó, cô bé ngủ rất yên bình với những viên bi xinh đẹp để trên đầu giường, trong khi cậu bé không thể ngủ vì băn khoăn cô bé có giấu đi những viên kẹo tuyệt nhất giống như cậu giấu những viên bi đẹp nhất của cậu hay không?

Lời bàn: “Một sự thật xấu xí còn hơn một điều dối trá tốt đẹp.” Người có lối sống chân thành bao giờ cũng tự nhiên có một sức thu hút đối với người khác, bởi bản chất con người là luôn muốn hướng về sự thật, về chân lý…

Vậy nên hãy chân thành 100% với tất cả những điều bạn làm và luôn ngủ thật yên bình nhé.

Theo Wordzz

Mộc Trà biên dịch


Sưu tầm từ Internet



CÁI TÔI VÀ SỰ HIU BIẾT


Khi bàn về cái tôi, người ta thường nói hóm hỉnh rằng: trong cuộc sống, cái tôi mà nặng thì thành tội; cái tôi huyền thì thành tồi; và cái tôi sắc thì thành tối. Mà sống trong tội lỗi, tồi tàn và tăm tối đều là sống trong sự thiếu hiểu biết. Vậy phải chăng sự hiểu biết và cái tôi có sự đối lập như Albert Einstein đã từng nói: “Cái tôi và sự hiểu biết tỷ lệ nghịch với nhau. Hiểu biết càng nhiều thì cái tôi càng nhỏ. Hiểu biết càng ít thì cái tôi càng lớn.”


Phát biểu của Albert Einstein đưa ra một vấn đề cần được xem xét và chứng minh. Vấn đề đó là mối liên hệ tỷ lệ nghịch giữa sự hiểu biết và cái tôi. Để có thể thấy được mối liên hệ tỷ lệ nghịch này, chúng ta cần xem xét một số vấn đề như định nghĩa về “cái tôi”, đặc điểm của “cái tôi” và phân tích “cái tôi” trong mối quan hệ với sự hiểu biết”


Một cụ ông hỏi một cụ bà về định nghĩa của tình yêu. Cụ bà lắc đầu, không thể đưa ra một khái niệm chắc chắn về tình yêu bởi “yêu” là một khái niệm trừu tượng. Cũng như thế, rất khó để có thể đưa ra một định nghĩa hoàn hảo về khái niệm “cái tôi”. Bởi chúng ta không thể chỉ vào một vật nào đó và nói rằng đây là “cái tôi” hay kia là “cái tôi”. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận biết và gọi danh cái tôi thông qua những biểu hiện của nó.


Cái tôi của một người có thể được xem là thái độ nhận định của người đó về chính mình, thái độ đó có xu hướng đề cao bản thân, xem bản thân hơn người khác. Vậy câu nói của Albert Einstein có ý cho mọi người thấy rằng: người càng hiểu biết sâu rộng thì càng tự hạ mình, tôn trọng và chấp nhận người khác. Còn người càng ít hiểu biết thì lại càng cho là mình hơn người khác, đặt bản thân lên trên người khác. Nói đến đây, chúng ta cũng đã có thể phần nào hiểu được về cái tôi. Tuy nhiên, chúng ta cần phải bàn thêm nhiều hơn để có thể thấy rõ những đặc điểm của cái tôi trong mối liên hệ với sự hiểu biết.


Cái tôi đi liền với việc cá nhân luôn cho mình là đúng là hơn người. Người có cái tôi lớn tự tin một cách thái quá vào khả năng của bản thân, nên họ cho rằng suy luận, ý kiến của họ là đúng, là tốt nhất. Và khi nghĩ như vậy thì họ không chịu chấp nhận những ý kiến trái chiều hay những lời phê bình và chỉ trích. Họ sẵn sàng phồng mang trợn má, dùng mọi nỗ lực để bảo vệ cho “cái tôi” to lớn kia. Khi nhìn vào các cây liễu và cây dầu trong cơn bão, cây liễu mềm dẻo, uốn mình thừa nhận sự yếu đuối của nó trước những cơn gió mạnh bạo.


Trong khi đó, cây dầu lại đứng hiên ngang, giương tất cả các cành to khỏe nhất, cứng cáp nhất để thể hiện sức mạnh của mình, để khẳng định “cái tôi” của nó. Kết quả là cây dầu đã bị quật đổ, cành cây xơ xác, còn cây liễu thì mỗi ngày mỗi lớn hơn dẫu cho biết bao nhiêu cơn bão đã qua đi. Người có cái tôi càng lớn thì họ lại càng không sẵn sàng tiếp thu những đóng góp của người khác nên chẳng thể thu tích được những tư tưởng hay những điều hay điều mới lạ. Dần dần, cái tôi của họ trở nên lớn hớn và sự hiểu biết thì đâm ra hạn hẹp. Còn đối với những người có cái tôi càng nhỏ, họ sẵn sàng rộng mở, đón nhận những yếu đuối của bản thân từ đó mà khắc phục và hoàn thiện hơn, hiểu biết nhiều hơn.


Thêm một đặc điểm nữa khi nói về cái tôi, người có cái tôi lớn là người có xu hướng che giấu, giữ lấy cái xấu, cái dở và cả cái ngu của họ mà không thèm đến cái hay cái tốt nơi người khác. Lý do khiến họ muốn che giấu là vì cái tôi to lớn của họ không muốn người khác biết được yếu điểm của họ, vì như thế thì sẽ rất dễ bị thua người khác. Khi che giấu cái dốt của bản thân, họ đã vô tình đóng lại cánh cửa duy nhất của sự hiểu biết. Họ chặn không cho mình tiếp thu những bài học mới mà cứ giữ lấy những quan điểm, những định kiến cũ rít của mình.


Một cái ao tù muốn đem lại sức sống mới thì không còn cách nào khác ngoài việc bỏ đi những khối nước tù đọng và nghèo nàn, thay vào đó là những dòng nước mới và giàu phù sa. Chúng ta không thể tiếp thu một điều mới mẻ và cấp tiến nếu cứ giữ lấy những tư tưởng bảo thủ. Giống như chúng ta không thể nào cầm lấy những quyển sách mà trên tay chúng ta lại ôm lấy cả một đống giấy vụn. Cách duy nhất là chúng ta hãy bỏ đống giấy đó xuống và đưa tay đón lấy những quyển sách. Hãy đặt cái tôi của chúng ta xuống và đón lấy những điều mới mẻ.


Khi xem xét sự hiểu biết trong mối quan hệ với cái tôi, chúng ta có thể thấy rằng người có cái tôi lớn là người hiểu biết rất ít về chính họ. Còn người có cái tôi nhỏ hóa ra lại là người biết rất nhiều về bản thân. Dựa trên đặc điểm của cái tôi, chúng ta dễ nhận ra rằng, người có cái tôi càng lớn thì càng hành động theo cảm xúc. Có thể chỉ cần một lời nói tựa như một giọt nước lạnh đụng chạm đến cái tôi to lớn của họ, chê bai hay chỉ trích chẳng hạn, thì họ tưởng chừng như đang bị dội cả một gáo nước lạnh hay cả một xô nước lạnh lên đầu, thế là họ có thể đã bực tức, cau có phản ứng dữ dội và để cảm xúc lấn áp lý trí. Những người như thế thật thiếu hiểu biết về chính mình.


Ngược lại, người có hiểu biết sâu rộng sẽ tìm để biết mình và hành động dựa trên lý trí, thay vì tình cảm. Người càng hiểu biết thì càng bình tĩnh và điềm đạm, họ suy xét kỹ lưỡng và sẽ nhận ra được những khiếm khuyết của bản thân. Từ đó, người càng hiểu biết thì càng hiểu bản thân hơn. Khi đã nhận ra yếu đuối của bản thân, thì cái tôi của họ sẽ càng ngày càng nhỏ lại. Dù có bị dội cả xô nước thì họ vẫn cảm thấy mát lạnh, sảng khoái, và thậm chí là họ còn cảm ơn người đã giúp họ rửa sạch những nhơ bẩn nơi họ.


Sau khi phân tích mối quan hệ giữa cái tôi và sự hiểu biết, chúng ta có thể khẳng định rằng Albert Einstein đã đúng khi cho rằng “Hiểu biết càng nhiều, cái tôi càng bé. Hiểu biết càng ít, cái tôi càng lớn”. Cái tôi là một khái niệm thật khó để diễn tả hết. Cái tôi nằm trong ngay chính mỗi người, nhưng không phải ai trong chúng ta cũng đủ hiểu biết để nhận thức và làm cho nó nhỏ lại. Không ai trong chúng ta muốn bị người khác gán cho cái mác là “cái tôi lớn” và cũng không ai muốn trở thành một kẻ ngu si, thiếu hiểu biết, nên mỗi chúng ta cần nhận biết và kiểm soát cái tôi của mình. Chúng ta cần làm cho mình trở nên hiểu biết hơn và làm cho cái tôi bé hơn mỗi ngày.




Sưu tầm từ Internet

BẠN ĐÃ DÀNH CHO GIA ĐÌNH NHỮNG GÌ?



Có những lúc bạn vô tình đặt gia đình ở một vị trí rất bình thường trong trái tim bạn. 
Chỉ khi thật sự mất đi một điều gì đó, bạn mới thấy điều đó là quan trọng.


 KHI CÒN NHỎ ...

- Bạn sẵn sàng nhường nhiều thứ lớn hơn cái kẹo cho đứa bạn ngồi cùng bàn nhưng đôi khi lai tranh giành đến đánh nhau với đứa em chỉ vì một chỗ ngồi.

- Bạn rất vui khi nhận trực nhật giùm cô bạn trong lớp nhưng lại luôn phân bì công việc dọn dẹp nhà cửa với đứa em ở nhà.

- Bạn có thể hăng hái làm một đầu bếp “siêu hạng” trong chuyến cắm trại đã ngoại của lớp nhưng lại không nhấc nổi tay chân vào bếp nhặt rau giúp mẹ. Bạn xem đó là việc đương nhiên mẹ phải làm.

- Bạn sẵn sàng bỏ ra ra hàng giờ đồng hồ trong quán điện tử và “chỉ bảo” cho những tên “đệ tử” với những game phức tạp nhưng lại không có lấy 1 phút để giảng bài cho các em của mình.

- Bạn luôn nhớ chúc mừng và tặng quà cho các cô bạn gái nhân dịp sinh nhật, 8-3 nhưng lại quên mất rằng bạn còn có một người phụ nữ khác quan trọng hơn rất nhiều, đó là Mẹ.

- Bạn thường sa sầm mặt mày, thậm chí nổi xung lên chỉ vì những lời trách cứ, răn dạy của bố mẹ, dù đúng nhưng sau đó bạn lại quên ngay như chưa từng được nghe.

- Bạn đã từng lưỡng lự mỗi khi xoa đầu cho Mẹ khi mẹ cảm thấy mệt nhưng lại quên mất rằng mẹ đã từng thức thâu đêm để canh giấc ngủ của bạn mỗi khi bạn “trái gió trở trời”


KHI LỚN LÊN...

- Bạn quá bận rộn với công việc, ngày nào cũng đến khuya mới về, ăn uống vội vàng rồi ngủ mà đôi khi quên hỏi thăm mẹ vì đã chong đèn thức chờ cơm bạn.

- Bạn đã từng khó chịu vì cha mẹ mình có lúc lẫn thẩn, “già hoá trẻ con” nhưng lại quên mất chính vì một phần vất vả, sinh thành nuôi dưỡng bạn mà cha mẹ bạn đi về hướng ngược lại như vậy.

- Bạn không bao giờ để ý rằng những lúc bạn buồn bã, thất vọng hay thất bại, Mẹ luôn ở bên cạnh bạn, chở che nâng đỡ bạn. Và dường như bạn cho rằng mỗi ngày việc bạn nhìn thấy mẹ là một điều hiển nhiên.


KHI BẠN RỜI XA GIA ĐÌNH ...

- Bạn bắt đầu hiểu cha mẹ đã vất vả, khó nhọc thế nào để nuôi bạn khôn lớn.

- Bạn hối hận vì đã cư xử không phải khi cha mẹ cứ trách mình.

- Bạn nhận ra rằng đứa em bạn thật đáng yêu, xem ra nó không trẻ con một chút nào, khác hẳn với bạn.

- Bạn cảm thấy tiếc nuối vì đã đánh mất biết bao giây phút gia đình sum họp đầm ấm.

- Bạn nhận ra mình thật vô tâm vì chưa bao giờ thực tâm giúp mẹ trong công việc gia đình.

- Bạn có lúc sẽ nhận ra là mình đã sai khi đặt cha mẹ ra khỏi thế giới riêng của mình chỉ vì một suy nghỉ hết sức một chiều: “Cha mẹ không hiểu con!”

- Chỉ khi bắt đầu làm cha, làm mẹ bạn mới thấu hiểu làm đấng sinh thành khó đến dường nào. Khi những đứa con xinh xắn của bạn lớn lên, bạn mới thấy thật không dể dàng để làm bạn với chúng. Và khi đã bước vào cuộc sống rồi, bạn mới hiểu sẽ rất khó có những giây phút vui vầy cạnh những đứa em như xưa. Nhưng hình như tất cả đã quá muộn, ba mẹ bạn hoặc đã già, hoặc đã đi xa mãi mãi. Bạn không thể tìm lại được những năm tháng hạnh phúc ấy.

- Có những lúc bạn vô tình đặt gia đình ở một vị trí rất bình thường trong trái tim bạn. Chỉ khi thật sự mất đi một điều gì đó, bạn mới thấy điều đó là quan trọng. Sẽ đến một ngày những giây phút bình dị nhất bên gia đình sẽ không còn nữa. Bạn ngoảnh đầu nuối tiếc ư? Sẽ không còn kịp! Bạn hãy dành nhiều thời gian cho gia đình hơn nữa, để yêu thương và cảm nhận đầy đủ những nhọc nhằn của mẹ, những nghiêm khắc của cha hay cái nhõng nhẽo của những đứa em. Vì có thể một lúc nào đó, bạn sẽ không còn thời gian để quay lại được nữa đâu!...


Tác giả: Khuyết Danh


 Sưu tầm từ Internet

Quả không sai! Người xưa dạy “có hại chịu thiệt là phúc!”



Người xưa dạy “có hại chịu thiệt là phúc” quả không sai! Trong lịch sử đã có rất nhiều câu chuyện thật chứng minh câu nói này là đúng, dưới đây là một câu chuyện như vậy.

Thời xưa ở phủ Thiệu Hưng có hai anh em ruột nhà nọ đều làm nghề buôn bán kinh doanh vải và lương thực. Hai anh em họ, mỗi người đều sinh được một người con trai. Nhưng người em trong lúc buôn bán không may gặp phải một kẻ bất nghĩa lừa gạt nên đã bị tổn thất nghiêm trọng. Vì quá uất ức, người em đã thắt cổ tự tử. Vợ của người em vì quá đau buồn, uất ức nên chưa đầy một năm sau thì cũng để lại cậu con trai bé nhỏ mà ra đi.

Cậu con trai nhỏ bé chưa đầy 6 tuổi của họ vì mất cả cha lẫn mẹ nên đành phải đi ăn xin kiếm sống ngoài đường. Ai cho cậu bé thứ gì cậu đều nhận lấy và nói lời cảm ơn.

Người anh chứng kiến gia đình người em chỉ trong một thời gian ngắn đã lâm vào bi thảm như thế. Anh ta không đành lòng nên đã đưa đứa cháu chưa đầy 6 tuổi này về nhà nuôi nấng. Nhưng đáng tiếc thay, kể từ ngày được về nhà bác ở, cậu bé lại lâm vào một loại hoàn cảnh bi thảm và áp lực không kém những ngày ăn xin ngoài đường.

Bởi vì vợ của người anh có lòng dạ nhỏ nhoi, hẹp hòi lại luôn coi thường người thân thích và bạn bè nghèo khó. Nên, khi thấy chồng mang đứa cháu đáng thương về nhà nuôi, trong lòng cô ta hậm hực vô cùng. Vì không có lý do nào để đuổi người cháu ra khỏi nhà nên người bác dâu luôn nói với hết người này người khác rằng: “Thằng bé đó là người mang đến vận rủi, nó có mệnh của kẻ ăn mày. Con trai tôi có mệnh làm trạng nguyên, không thể chơi cùng với đứa ăn mày được.” Vì thế mà người trong thôn từ đó gọi cậu bé đáng thương là “tiểu ăn mày” còn gọi con trai họ là “tiểu trạng nguyên.”

Ban ngày, người bác dâu luôn bắt cậu bé đi cắt cỏ, đốn củi, còn buổi tối thì bắt cậu bé ngủ trong kho củi, ăn cơm với dưa muối và không ngày nào được ăn no. Hằng đêm, khi mọi người đã đi ngủ, vạn vật yên tĩnh, cậu bé đều ngẩng đầu nhìn những ngôi sao trên bầu trời, nhớ về cha mẹ mà tủi thân khóc…

Ngay từ nhỏ, cậu bé “ăn mày” này đã là người hiểu chuyện. Cậu biết bác trai mình là người sợ vợ nên không bao giờ để bác phải rơi vào cảnh khó xử. Cậu cũng biết bác dâu là người coi trọng tiền bạc và lợi ích nên luôn im lặng trước những lời trách mắng, kể cả là những lời trách mắng không có căn cứ.

Ngược lại với cậu bé “ăn mày”, anh họ của cậu lại là một cậu bé kiêu căng ngạo mạn. Cậu ta luôn ức hiếp em họ mình và còn mỉa mai rằng: “Đồ ăn mày! Đừng lại gần ta, đừng đem không khí nấm mốc đến nhà ta.”

Bác dâu luôn yêu chiều con trai mình mà hắt hủi người cháu đáng thương. Ngoài việc cho con ăn những đồ ngon nhất, mặc quần áo đẹp nhất thì cô luôn đáp ứng mọi yêu cầu của con. Mặc dù được yêu chiều như vậy nhưng con trai của họ luôn bị ốm đau bệnh tật. Điều này khiến cho người bác dâu càng ghét bỏ người cháu hơn bởi vì cậu bé tuy chỉ được ăn cơm với rau dưa nhưng lại luôn vui vẻ và mạnh khỏe.

Ở trong thôn có một nhà thờ tổ của dòng họ, ở đó có một vị thầy giáo già dạy học cho hơn 10 đứa trẻ con nhà khá giả. Những đứa trẻ này đều là có nộp học phí nên mới được tham gia lớp học. Vì vậy mà “tiểu trạng nguyên” cũng được vào học còn “tiểu ăn mày” chỉ có thể ngồi ở ngoài hành lang mà nghe lén. Vị thầy giáo già biết hoàn cảnh đáng thương của “tiểu ăn mày” nên thường cho cậu ngồi ở cửa lớp nghe giảng bài và cũng cho cậu mượn sách về đọc.

Về sau, thầy giáo phát hiện ra “tiểu ăn mày” có năng lực và trí nhớ hơn người, vượt xa những đứa trẻ khác. Đã là cậu bé hiểu chuyện lại chăm chỉ học hành, vì vậy thầy giáo già đã xin cậu bé về làm con thừa tự. Người bác dâu cảm thấy vô cùng vui vẻ, trong lòng như trút được gánh nặng liền đồng ý ngay lập tức. Bác trai của cậu bé vì hiểu được hoàn cảnh của cháu nên cũng đồng ý cho cậu về ở với thầy giáo già.

Mấy năm sau, thầy giáo già cáo lão về quê đồng thời đưa “tiểu ăn mày” theo cùng. Kể từ ngày đó, cậu bé đáng thương không còn mối liên lạc với gia đình người bác của mình.

Thấm thoát đã hơn 10 năm trôi qua, nhờ sự chỉ dạy của cha nuôi và sự cố gắng hết mình của bản thân, “tiểu ăn mày” giờ đây đã trở thành một thư sinh có tri thức hiểu lễ nghĩa. Cậu đã trải qua các kỳ thi và cuối cùng vào kinh thành dự thi rồi đỗ trạng nguyên ngay trong lần đầu. Cậu bé có mệnh “ăn mày” khi xưa đã không phụ lòng cha nuôi mà trở thành trạng nguyên. Điều trùng hợp chính là, “tiểu ăn mày” năm xưa lại trở về phủ Thiệu Hưng làm phán quan.

Sau ngày “tiểu ăn mày” rời đi, gia đình người bác ở Thiệu Hưng bị phá sản. Bởi vì từ nhỏ đã được yêu chiều, nên sau này lớn lên “tiểu trạng nguyên” không biết làm việc gì. Cậu ta bắt đầu tham gia với nhóm bạn đứng đường cướp bóc của dân. Đúng ngày “tiểu ăn mày” trở về quê làm quan thì cũng là ngày anh họ cậu bị bắt. Người anh họ biết rõ người xét xử mình là “tên ăn mày” luôn bị mình mỉa mai năm xưa nên vô cùng xấu hổ và đố kỵ. Người anh họ này sau đó bị chịu hình phạt ngồi tù 5 năm.

Mặc dù, khi xưa bị người bác dâu đối xử không tốt nhưng “tiểu ăn mày” không vì thế mà để bụng. Về sau, người anh họ hết hạn tù, “tiểu ăn mày” còn thu xếp công việc cho cậu ta và chăm sóc hai người bác họ cho đến tận cuối đời. “Tiểu ăn mày” cả đời làm quan thanh bạch luôn giúp đỡ người khác, gia đình hạnh phúc, con cái hiếu thảo thành đạt, sống an vui đến tận về già.

Người xưa dạy “có hại chịu thiệt là phúc” quả không sai! Người luôn sẵn lòng chịu thiệt, sẵn sàng giúp đỡ, tha thứ cho người khác kể cả với người đối xử không tốt với mình, người ngoài nhìn thì tưởng rằng họ là “kẻ ngốc” nhưng chính là họ đang tích đức, tích phúc báo cho mình. Cho nên, những điều may mắn, và vận mệnh tốt sẽ đến với họ.

Hãy luôn làm người tốt, chịu thiệt thòi một chút không hẳn là “người ngốc”, có thể hiện tại bạn sẽ bị mất đi một chút lợi ích nào đó nhưng tâm hồn bạn sẽ luôn được bình an và nhất định bạn sẽ được phúc báo!



TAN VỠ - LAM PHƯƠNG
TIẾNG HÁT NGỌC LAN


Một chiều thu xưa e ấp bên nhau
Lặng nhìn mây trôi mơ mối duyên đầu
Mơ ngày hai đứa bước chung nhịp cầu
Dệt bao mộng thắm cho nhau
Và mơ đến mai sau

Mà chiều thu nay ai nỡ bước đi
Để hồn bơ vơ giữa tuổi xuân thì
Ôm sầu cay đắng đớn đau riêng mình
Tàn phai một giấc mơ hoa
Thương ngày vui chóng qua

Ngàn năm mây vẫn bay
Có buồn chăng hỡi ai
Sao tình đời chóng phai
Ái ân xưa quên rồi
Bước đi không đôi lời
Còn gì đâu nữa ân tình

Rồi người ra đi đẹp mối tơ duyên
Còn một mình tôi thương chút hương nguyền
Cho dù ai đã bước sang ngang rồi
Mình tôi một bóng đơn côi
Thương ngàn đời khó nguôi

Sưu tầm từ Internet
VÔ CẢM
Minh Niệm



Khi đã thực sự dừng lại và nhìn sâu thì ai cũng sẽ biết chia sớt và nâng đỡ những mảnh đời khốn khổ, đáng thương xung quanh. Chỉ khi nào con người trở về bản chất biết quan tâm nhau và sống vì nhau thì ý niệm cao - thấp, sang - hèn, vinh - nhục… mới biến khỏi cuộc đời này.

Trái tim khô

Cuộc sống ngày càng nhiều biến động, đổi thay, đến nỗi có những điều rất bất thường nhưng người ta lại thấy nó bình thường, và có những điều hết sức bình thường mà người ta lại cho đó là bất thường. Chuẩn mực về đúng sai dường như đã không còn nằm trong “dinh lũy” của triết lý hay đạo đức nữa, nó thuộc về quyền lực của kinh tế. Cái gì làm cho kinh tế phát triển là đúng, còn ngược lại là sai.

Tốt nghiệp ra trường đã lâu mà ta vẫn chưa kiếm được việc làm, cứ quanh quẩn trong gia đình thì lập tức bị xem là hành động bất thường. Dù rằng mỗi ngày ta cũng làm việc vất vả phụ giúp gia đình, nhưng thật khó thản nhiên khi “bị” hàng xóm, bạn bè, hay chính người thân trong gia đình hỏi thăm, “Sao vẫn chưa đi làm hả?”, “Bộ tính sống kiểu này luôn sao?”. Từ chối mức lương cao hay cơ hội thăng chức, để được sống thảnh thơi và chăm sóc gia đình nhiều hơn cũng có thể bị xem là “ấm đầu”, là có vấn đề. Thời buổi bây giờ ai cũng cong người lao tới phía trước mà ta lại cứ từ từ, an phận, tức là ta đã tự tách mình ra khỏi dòng chảy của xã hội văn minh này. Ta tụt hậu mất rồi.

Thành kẻ tụt hậu để mỗi sáng thức dậy có thể nghe tiếng chim hót bên sân vườn, nhìn thấy mặt trời vương trên những ngọn tre, ngắm thật lâu những người thân đi qua lại, ân cần hỏi thăm cô bác hàng xóm, có thời gian dừng lại nhặt nhánh gai bên đường hay giúp cụ già đẩy chiếc xe hàng rong lên con dốc, đủ thảnh thơi để lang thang trên con đường làng râm mát, buồn buồn ghé qua nhà bạn uống trà và tán dóc đủ thứ chuyện trên đời… Tụt hậu mà có thể sống, sống sâu sắc trong từng giây phút, sống trầm tĩnh và an nhiên, sống hài hòa và thân thiết với mọi người xung quanh, thì cũng đáng lắm chứ.

Còn tiến tới thì được gì, mất gì? Người ta cứ đinh ninh rằng càng phát triển kinh tế, càng nắm bắt được nhiều thứ (từ vật chất đến quyền lực) thì sẽ càng hạnh phúc, nhưng họ lại để cho hư hao một thứ cực kỳ quan trọng, thứ duy nhất cảm nhận được hạnh phúc - đó là trái tim biết rung động. Một trái tim biết rung động trước những khó khăn hay nỗi khổ của kẻ khác là một trái tim chưa thương tật, một trái tim còn bình thường. Đó chính là trái tim hạnh phúc, bởi vì hạnh phúc đích thực chỉ có mặt khi ta biết sẻ chia.

Khi ta mong muốn có thêm những điều kiện hưởng thụ và tìm mọi phương cách để đạt được, san bằng mọi trở ngại, bất chấp mọi thủ đoạn, không kể gì đến sự thiệt thòi hay tổn hại của kẻ khác, lạnh lùng và nghi ngờ mọi người xung quanh, đó chính là lúc trái tim ta rỉ máu và khô cạn. Làm kinh tế phải có trái tim lạnh, không biết rung cảm thì mới thành công. Nhưng thành công mà không có hạnh phúc thì thành công để làm gì?

Giả dụ vì một cơn biến động nào đó mà những người thân yêu đều biến khỏi cuộc đời ta, và loài người cũng không còn có mặt trên hành tinh này nữa, chỉ còn một mình ta với sản nghiệp khổng lồ thì ta có thể sống và hạnh phúc không? Vậy mà bây giờ ta sống như thể không hề dính dáng tới ai, không cần ai, không chịu ơn ai, không có trách nhiệm gì với ai, cố gắng tồn tại chứ không phải đang sống vì sự sống là phải có sự cảm nhận và rung động. Và chẳng biết tự bao giờ, trong đầu ta đã cài đặt sẵn mật lệnh“mặc kệ nó”để dửng dưng đi ngang qua cuộc đời này như một kẻ xa lạ đến từ hành tinh khác.

“Mặc kệ nó”

Đã lâu rồi, mỗi lần giở trang nhật báo ra, ta không còn cảm giác rợn người và thương tâm trước những vụ tai nạn giao thông thảm khốc nữa. Thay vào đó, ta lại thấy may mắn vì những người thân của ta không có trong danh sách thương vong. Rồi như không có gì xảy ra, ta thản nhiên lao vào dòng chảy giao thông như một cuộc chiến: tranh thủ vượt đèn đỏ, bất chấp lằn đường, giành giật nhau từng khoảng trống trên đường, ăn vạ hay hung hãn đánh nhau khi lỡ va chạm và hậu quả còn nghiêm trọng hơn cả tai nạn thật.

Ở Mỹ, nếu ta đến giúp người gặp nạn thì có thể bị nghi là thủ phạm và sẽ phải mất nhiều thời gian để chứng minh mình vô can trước cảnh sát hay tòa án. Thế nên, nhiều người đã phải học cách nhẫn tâm, nhắm mắt làm ngơ trước nạn nhân kêu cứu để khỏi gánh chịu phiền phức, “Chắc thế nào cũng có người gọi báo cảnh sát thôi”. Ở một số nước, luật quy định gây tai nạn để lại thương tật tốn nhiều khoản bồi thường hơn gây tử vong. Điều này vô tình biến những kẻ ích kỷ và hèn nhát thành kẻ đánh mất lương tri, họ cố tình cán nạn nhân tới chết khi trót gây tai nạn, rồi lạnh lùng buông câu hỏi, “Tôi phải trả bao nhiêu tiền cho cái xác này?”. Đó là sự thật khó tin trong thời đại của chúng ta.

Ta cũng lánh xa dần thói quen “click” chuột vào mục “tấm lòng nhân ái” của những trang tin điện tử, vì sợ phải nhìn thấy những số phận éo le đến nghiệt ngã mà nao lòng: “Nhiều quá làm sao giúp cho hết”, “Trách nhiệm này đâu phải của riêng ta”. Ta tự nhủ thầm như thể có ai đang bắt bí sự thờ ơ vô tình của ta vậy, rồi thấp thỏm đi tìm cảm giác dễ chịu từ những mục văn nghệ giải trí, hay những thông tin bổ ích cho công ăn việc làm. Thỉnh thoảng gặp vài người quen nằng nặc xin tiền bảo trợ cho hội từ thiện nào đó, ta lại giương mắt nghi ngờ, vặn vẹo đủ điều, như thể không còn ai là người tốt thật trên đời.

Cái đáng lo sợ nhất cho giới trẻ bây giờ không phải là thiếu kiến thức, mà là thiếu niềm tin. Họ đã thôi bỡ ngỡ đến tỉnh rụi trước sự giả trá. Họ từng nghe có những em học sinh đu dây qua sông đi học, những đứa bé bị bóc lột lao động đến kiệt sức để kiếm tiền đóng học phí, nhưng không biết những người có trách nhiệm cao nhất ở đâu khi họ đã từng hăng hái ký vào Công ước Quốc tế về quyền bảo vệ trẻ em. Họ cũng từng biết có những cái chợ vô hình mà nơi đó người ta bán thần thánh, bán chức tước, bán trinh tiết và bán cả mạng người. Người lớn im lặng. Nhà chức trách làm ngơ. Thử hỏi người trẻ dựa vào đâu để tin có chánh nghĩa, có công lý? Họ lấy gì để tiếp nối đây? Đứt đoạn mất rồi!

Tất nhiên, không phải đến bây giờ người ta mới sống vô cảm, nhưng phải nhìn nhận rằng cuộc tổng tấn công toàn diện của kinh tế đã phá vỡ tan tành thành trì đạo đức, khiến biết bao kẻ cam tâm vứt bỏ bản chất thiên nhiên của con người để trở thành cỗ máy vô tri. Ta thích kiểu sống “độc lập” - không muốn đụng chạm tới ai và cũng không muốn ai phiền nhiễu tới mình. Ta luyện tập thuần thục thói quen “mặc kệ” mọi biến động xung quanh, dù với người thân, để thẳng tiến tới mục đích làm giàu hay thỏa mãn quyền lực. Như Đức Dalai Lama từng than, “Chúng ta đã lên tới mặt trăng và trở về, vậy mà quá khó để bước qua đường gặp người hàng xóm mới” (We’ve been all the way to the moon and back, but have trouble crossing the street to meet the new neighbor). Chừng nào ta vẫn còn tin thỏa mãn danh vọng là hạnh phúc lớn nhất của con người, vẫn bỏ cái chung vì cái riêng, thì ta sẽ mãi không thuộc về nơi này và sẽ mãi độc hành với trái tim khô.

Đi lại từ đầu

Ai chưa từng sống qua miền thôn quê của nước Mỹ, nơi mà ngay cả giới truyền thông của Mỹ cũng chưa từng đặt chân tới, có thể sẽ nhận xét phiến diện về người Mỹ.

Không cần đứng bên lề đường và giơ ngón tay cái lên nhiều giờ, nhiều ngày, như ở đô thị để xin một cuốc đi xe nhờ, cứ thong thả bước đi thì tự khắc sẽ có người dừng xe lại hỏi thăm và đón ta. Không người này thì cũng có người khác. Bất cứ thứ thực phẩm gì có trên xe, họ đều đem ra mời như gặp lại người thân quen. Có khi họ mời ta về nhà nghỉ ngơi, hoặc sẵn lòng đưa ta thẳng tới nơi ta cần tới dù không cùng đường về nhà họ.

Ngay cả những khu đông người như thị trấn cũng không có tín hiệu đèn đỏ. Xe này nhường xe kia, người này nhường người nọ. Điều thú vị là những người lái xe rất hay vẫy tay chào nhau hoặc chào những người đi bộ bên đường, dù không quen biết nhau. Có lẽ vì họ không bận rộn và hối hả như những người sống ở đô thị, hoặc vì họ thấy đó là một niềm vui, là điều cần thiết. Một cái vẫy tay kèm theo nụ cười nhẹ nhàng khiến kẻ đón nhận cảm thấy sự có mặt của mình rõ ràng và giá trị hơn, không gian trở nên rộng lớn hơn; và đối với những người khách lạ thì cảm thấy được chào đón và yên lòng hơn.

Chỉ trừ những nơi nuôi gia súc bắt buộc phải làm hàng rào, còn hầu hết nhà cửa ở miền quê đều không bao giờ khóa, kể cả khi họ đi vắng. Ta có thể tự vào nhà lấy nước uống và đánh một giấc ở góc nào đó để chờ họ về mà không phải lo sợ họ nổi giận, rút súng ra dọa, hay báo cảnh sát như ở nhiều nơi giàu có trên đất nước Mỹ. Hàng xóm muốn qua mượn đồ, biếu chút quà, hay chỉ qua chơi thì cứ tự nhiên đẩy cửa vào nhà mà không cần phải lấy hẹn trước. Những công việc nặng nhọc như đào giếng, dựng nhà, thu hoạch cả cánh đồng nho… đều có những bàn tay hăng hái của xóm giềng phụ giúp. Mỗi cuối tuần, họ đem cả gia đình đến họp mặt tại ngôi nhà chung của làng để vui chơi, đàn ca và ăn uống. Có những buổi hàn huyên đến tận khuya, khi có trăng đưa lối về nhà.

Có những ngôi làng hẻo lánh chỉ có khoảng vài ba chục gia đình, nhưng nơi ấy chưa bao giờ im lìm đến ngạt thở như những khu biệt thự sang trọng trong thành phố lớn. Luôn luôn có những tiếng cười nói, gọi nhau ơi ới ngoài sân vườn hay trên cánh đồng. Trẻ con thường chỉ học ở nhà, tuy cũng theo chương trình của nhà trường nhưng do phụ huynh hướng dẫn. Có những đứa bé lớn lên chưa bao giờ đến trường, và nếu có thì cũng chỉ học hết tiểu học hoặc trung học. Không phải vì không có điều kiện đến trường, mà vì cha mẹ chúng thấy không cần thiết và không mấy tin tưởng vào hệ thống giáo dục có thể làm cho con họ tốt hơn, trái lại, sẽ làm hư hại tâm hồn nhiều hơn. Mà thật, quan niệm thất học là thứ tệ nạn không có chỗ đứng ở những nơi mà người ta sống và hành xử với nhau không phải bằng cái đầu khôn khéo và đầy ắp kiến thức, mà bằng trái tim chân thành.

Ở Alaska, nơi có khí hậu cực kỳ khắc nghiệt và kinh tế đứng gần hạng bét nước Mỹ, lại có nhiều cộng đồng rất vững mạnh. Họ sống trong rừng sâu hay thung lũng vắng, gần như biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Dù sống bằng nghề nông, nhưng phần lớn lại xuất thân từ nhiều ngành nghề khác nhau và từng sống ở những đô thị lớn. Đặc biệt, không ai sở hữu tài sản riêng, mọi thứ đều chia sẻ đồng đều với nhau. Nơi đó, số lượng công việc được làm không quan trọng bằng chất lượng sống mỗi ngày, nên âm nhạc, yoga hay thiền định luôn là nguồn thức ăn tinh thần. Điều bất ngờ nhất là họ tránh xa ti-vi, và trẻ con không hề biết đến các trò chơi điện tử. Tuy nhiên, họ cũng không ngừng cải thiện lối sống bằng thói quen đọc sách. Sách đã đem họ tới gần với tinh hoa của thế giới.

Không phải bất kỳ miền quê nào của nước Mỹ cũng có khung cảnh sinh hoạt chan hòa và hạnh phúc như vậy. Nhưng nhìn chung, những nơi nào mà vật chất ít chiếm cứ thì nơi ấy con người được là chính mình hơn, làm chủ cuộc sống nhiều hơn. Con người ở khắp nơi trên thế giới, và ngay cả những xứ sở mệnh danh là siêu cường quốc, còn đang loay hoay tìm kiếm hạnh phúc bằng đủ mọi phương cách, nhưng họ vẫn chưa thấy rằng ham muốn vật chất là một trong những trở lực lớn nhất của hạnh phúc.

Thực ra, vật chất không phải là thứ nguy hiểm đáng sợ, nó cũng có vị trí nhất định trong đời sống con người. Nhưng khổ nỗi, hễ con người chạm tới nó là dễ dàng bị nó quật lại, điều khiển, và rút mòn sinh lực. Nó thường mạnh hơn nội lực con người, vì nó có thể đánh thức ma lực ham muốn. Mà, càng ham muốn thì càng phát triển bản ngã ích kỷ, nên không còn đủ thời gian và năng lực để quan tâm đến những người thân yêu, chứ nói gì đến xóm giềng hay toàn xã hội. Và, càng ham muốn thì tâm càng biến động, trong khi hạnh phúc chỉ đến từ sự bình yên - trạng thái chấp nhận hoàn toàn những gì đang có trong hiện tại, tức là không mong cầu hay chống cự điều gì nữa.

Có thể nói có hai cách để sống: một là sống ít ham muốn mà có nhiều hạnh phúc, hai là nhiều ham muốn mà ít hạnh phúc. Tuy nhiên, hầu như ai cũng muốn sống theo cách thứ ba - vừa ham muốn vừa hạnh phúc, nhưng cách này chưa bao giờ trở thành hiện thực cả. Trong thực tế, càng lên tới đỉnh cao danh vọng thì ta càng đánh mất cơ hội thưởng thức cuộc sống và khả năng yêu thương vốn rất bao la của mình. Sống mà không được yêu thương hay không thể trải lòng ra để yêu thương thì đâu thể nào có hạnh phúc. Có chăng, cũng chỉ là những cảm giác hấp dẫn và bay bổng nhất thời, đó không phải là nhu cầu lớn nhất của con người. Khi chưa tìm thấy được nhu cầu cao nhất của bản ngã thì ta sẽ mãi còn khắc khoải, chênh vênh, lạc lõng, và trôi lăn giữa cuộc đời này.

Ta cứ khăng khăng đòi phải phát triển, phải vươn lên, phải hiện đại hóa mọi thứ. Nhưng cũng chính ta lại bàng hoàng, phẫn nộ, kêu than tại sao con người ngày nay trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn, và hung ác đến thế. Tất cả những cuộc tương tàn đẫm máu giữa những kẻ xa lạ, đến những vụ thảm sát man rợ giữa những người thân trong gia đình mà ta thấy nhan nhản mỗi ngày trên mặt báo, nếu không phải do động cơ ham muốn và hơn thua nhau thì là cái gì? Nói cách khác, thái độ sống ích kỷ, dửng dưng, vô cảm là một trong những loại siêu vi khuẩn hàng đầu hủy diệt sự liên kết giữa các tế bào trong xã hội.

Do đó, con đường thoát cho nhân loại chắc chắn không thể nào là cứ cố gắng phát triển kinh tế hơn nữa. Đã đến lúc phải thẳng thắn thừa nhận mặt trái quá khủng khiếp của nó. Thay vào đó, hãy quay về nâng dậy những giá trị quý báu của tâm hồn. Khi đã thực sự dừng lại và nhìn sâu thì ai cũng sẽ biết chia sớt và nâng đỡ những mảnh đời khốn khổ, đáng thương xung quanh. Chỉ khi nào con người trở về bản chất biết quan tâm nhau và sống vì nhau thì ý niệm cao - thấp, sang - hèn, vinh - nhục… mới biến khỏi cuộc đời này.

Vẫn chưa quá muộn để ta cùng nhau đi lại từ đầu, vì nẻo ấy ta đã đi qua và tổ tiên ta cũng đã từng trải nghiệm thành công. Nhưng chuyến đi lại này ta quyết phải đi cho thật kỹ, thật hay. Đi lại từ đầu là thoát khỏi sự xiềng xích của vật chất để trả ta về lại với thiên nhiên, với tình người. Đi lại từ đầu là vui vẻ đi chung đường, đi bên nhau mà không lo ngại gì nhau, luôn sẵn lòng với nhau. Đi lại từ đầu là đi trong tỉnh thức, an nhiên.

Đi về đâu, hỡi em?
Dửng dưng trên đường nhỏ
Dòng người đây thân quen
Vẫn bên em từ đó.

Minh Niệm
(NS. Giác Ngộ)


CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI
BS Đỗ Hồng Ngọc



Có câu đúc kết “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở một tuổi quá cao nào đó, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có tiểu tiện và đại tiện khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.

Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.

Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông minh hiện đại làm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!

Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.

Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng “tử” dễ nghe hơn “chết”. Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là “băng hà”. Sư chết gọi là “viên tịch”. Phật chết gọi là nhập Niết-bàn. Lính chết gọi là “hy sinh”… Dân chết có khi gọi là “mất” là “qua đời” là “lìa trần”, v.v…

Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.

Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù giằng co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vã ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt… Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy. Rồi cùng mà mỉm cười. N cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde…

BS Đỗ Hồng Ngọc

Văn Hóa Phật Giáo số 322 ngày 01-06-2019 | Thư Viện Hoa Sen


ĐỪNG XA NHAU - PHẠM DUY
TRÌNH BÀY . TUẤN NGỌC



Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!
Đừng rẽ khúc tình nghèo
Đừng chia nhau nỗi vui niềm đau.
Đừng buông mau! Đừng dứt áo!
Đừng thoát giấc mộng đầu,
Dù cho đêm có không bền lâu.

Đời phai mau, người ghen nhau,
Lòng vẫn cứ ngọt ngào,
Miệng ru nhau những ân tình sâu.
Đừng xôn xao, đừng khóc dấu,
Đừng oán trách phận bèo,
Vì sông xa vẫn trung thành theo.

Dù mai sau dắt nhau mà qua cầu.
Mồ chôn sâu ánh trăng vàng mái lầu.
Đừng xa nhau nhé!
Đừng quên nhau nhé !
Đừng chia nhau núi cao vực sâu.

Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!
Đừng dứt tiếng ngậm sầu,
Đừng im hơi đắng cay rời nhau.
Đừng đi mau, để mãi mãi,
Là chiếc bóng đậm mầu
Còn theo nhau tới muôn đời sau.


Sưu tầm từ Internet

NGƯỜI PHỤ NỮ NHÂN HẬU


Nếu bạn tới thăm thành phố New Orleans xinh đẹp, chắc hẳn sẽ có ai đó hướng dẫn bạn đến khu kinh doanh lâu đời, nơi tập trung các ngân hàng, cửa hiệu, khách sạn, và sẽ chỉ cho bạn thấy một pho tượng được dựng vào năm 1884 tại quảng trường nhỏ ở đây. Pho tượng một người phụ nữ ngồi trên cái ghế thấp, tay ôm một đứa bé đang ngả đầu vào người bà. Người phụ nữ không mấy xinh đẹp và trang phục khá giản dị. Bà mang một đôi giày vải, mặc váy trơn, quàng khăn và đội mũ rộng vành. Bà có dáng người tầm thước, hơi mập. Khuôn mặt bà có nét điển hình của người Ái Nhĩ Lan với chiếc cằm vuông vức. Ánh mắt của bà đặc biệt nồng ấm, chứa chan tình cảm, tựa như ánh mắt người mẹ dành cho đứa con thân yêu.


Đó là một trong những pho tượng đầu tiên ở Mỹ được tạc để tôn vinh một người phụ nữ. Ngay cả tại châu Âu cổ xưa, có rất ít tượng đài được xây dựng để tỏ tôn vinh phụ nữ, và nếu có, hầu hết chúng đều dành cho những nữ hoàng hoặc công nương quyền quý, những người rất xinh đẹp và rất sang trọng. Nhưng pho tượng ở New Orleansnày thì hoàn toàn khác.

Pho tượng này tạc bà Margaret Haughery, nhưng chẳng ai tại New Orleans nhớ rõ cái tên đó. Họ chỉ nhớ bà là Margaret.

Margaret mồ côi cả cha lẫn mẹ khi còn rất nhỏ. Bà được một cặp vợ chồng trẻ nhận làm con nuôi. Họ cũng nghèo khó và tử tế như cha mẹ ruột của bà. Margaret sống với họ đến lúc trưởng thành, lập gia đình và sinh một con trai. Nhưng không may, chẳng bao lâu sau chồng, rồi con bà lần lượt qua đời, để lại mình Margaret quạnh hiu. Tuy nghèo nhưng Margaret khỏe mạnh và giỏi giang. Không để đau buồn quật ngã, bà vẫn tiếp tục làm việc.

Bà làm cho một tiệm giặt ủi suốt ngày, từ sáng sớm đến tối mịt. Qua song cửa sổ nơi làm việc, bà trông thấy những đứa trẻ ở trại mồ côi gần đó. Một thời gian sau, một trận đại dịch xuất hiện ở thành phố, cưóp đi bao sinh mạng và làm cho số trẻ côi cút tăng lên. Trại mồ côi không đủ chỗ để chăm sóc các em. Chắc hẳn không ai có thể nghĩ rằng một phụ nữ nghèo, sống bằng nghề giặt ủi, lại có thể trở thành chỗ dựa thân ái mà các em bé bơ vơ. Nhưng Margaret đã nghĩ như vậy.


Bà đến thẳng trại mồ côi, nói rằng bà sẽ trích một phần lương của mình tặng cho trại và tình nguyện sống bên cạnh để chăm sóc các em.


Bà cố gắng làm việc chăm chỉ, và từ số tiền lương dành dụm được, bà mua một cặp bò và chiếc xe chở hàng nhỏ. Mỗi sáng, bà đánh xe đi giao sữa cho khách hàng và không quên xin những thức ăn còn thừa từ các khách sạn, những nhà giàu có trong thành phố, mang về cho lũ trẻ đói lòng trong trại mồ côi.


Tuần nào bà cũng mang tiền đến tặng trại trẻ mồ côi. Sau vài năm, số tiền ấy ngày một lớn. Do tính cẩn thận và giỏi giang, công việc kinh doanh của bà ngày thêm phát triển. Cuối cùng, bằng số tiền tích lũy, bà xây một ngôi nhà dành cho trẻ mồ côi.

Một thời gian sau, Margaret mua được một lò làm bánh mì, rồi bà chuyển sang nghề giao bánh mì. Những đồng tiền kiếm được, bà vẫn đều đặn trích ra tặng cho trại mồ côi.

Rồi Cuộc nội chiến ở Mỹ bùng nổ. Trong thời buổi loạn ly, bệnh tật và đầy sợ hãi ấy, Margaret vẫn đánh chiếc xe bò đi giao bánh mì. Bà luôn xoay xở để vừa giúp đỡ những người lính đói khát, vừa quan tâm đến những em bé mồ côi. Khi chiến tranh kết thúc, không ai trong thành phố không biết đến tên bà. Trẻ em trong khắp thành phố yêu quý bà. Các doanh nhân tự hào về bà. Những người nghèo đến gặp bà xin lời khuyên bảo. Bà thường ngồi trước cửa văn phòng mình, trong bộ váy bằng vải dày và với cái khăn nhỏ quàng trên cổ, tận tình đưa ra lời khuyên cho tất cả những ai đến nhờ bà giúp đỡ, bất kể họ giàu hay nghèo.

Cuộc sống dần trồi cho đến một ngày, bà Margaret lặng lẽ qua đời. Lúc đọc di chúc của bà, người ta mới biết ngoài tất cả những gì bà đã hiến tặng, bà vẫn còn dành dụm được 30.000 đô la – và bà muốn tặng hết số tiền này cho tất cả các trại mồ côi trong thành phố, không phần biệt là trại của người da trắng, da đen, người Do Thái, người theo đạo Thiên Chúa hay đạo Tin Lành. Margaret luôn nói: “Tất cả đều là trẻ mồ côi như nhau”. Những ý nguyện cao đẹp của bà đã được ký bằng một nét gạch ngang thay cho tên của bà, vì Margaret chưa bao giờ biết đọc hay biết viết!

Khi hay tin bà qua đời, người dân New Orleans đã truyền tụng rằng “bà là mẹ của tất cả những người mồ côi mẹ, là bạn của những người không có bạn bè. Sự thông tuệ của bà không trường học nào có thể dạy được. Chúng ta sẽ mãi mãi không được quên bà”. Thế là họ tạc một bức tượng, thể hiện lòng kính trọng của người dân New Orleans đối với người phụ nữ có trái tim vô cùng nhân hậu và cách sống giản dị tên là Margaret Haughery.