Sưu tầm từ  Internet

NHÂN QUẢ

Tâm Minh Ngô Tằng Giao


     Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.

 

     Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.

 

     Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”

 

     Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.

 

     Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.

 

     Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.

 

***

      Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông  là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây

 

     Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.

 

     Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.

 

     Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm  lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.

 

***

 

     Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.

 

     Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.

 

     Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.”

 

     Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.

 

     Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.

 

     Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.

 

     Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn.

 

     Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.

 

     Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”

 

***

 

     Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892. Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

 

     Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.

 

     Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…

 

     Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.

 

     Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.

 

     Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.

 

     Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.”

 

***

 

     Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! 

(The world is a wonderful place. What goes around comes around!)

 

     Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)  

 

     Quả thật Đức Phật đã từng khuyên dạy chúng sinh là hãy chăm tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn món tâm rộng lớn không lường được”, đó là các tâm “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Riêng tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác, lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, chúng sinh, lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ. 

 

     Tâm từ không phải là sự yêu thương thiên về xác thịt, về tình dục, cũng không phải là lòng trìu mến vị kỷ, lòng luyến ái đối với riêng người nào. Tâm từ không phân biệt kẻ thân người sơ, không dành riêng cho tình đồng chí, đồng chủng, cũng không dành riêng cho tình đồng hương hay đồng đạo. Hơn nữa tâm từ không phải chỉ nên có giữa người và người mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, bởi vì, loài cầm thú cũng cần đến sự giúp đỡ và tình thương.

 

     Nói tóm lại, tâm từ bao la, rộng rãi, trải ra đồng đều, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” không còn nữa. Mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất.

 

     “Kinh Pháp Cú” cũng nói đến “Luật Nhân Quả”. “Nhân” nghĩa là nguyên nhân, là hạt, tức hạt giống sinh ra một vật hữu hình hay là sức mạnh sinh ra một vật vô hình. “Quả” là kết quả, là trái, tức là kết quả hữu hình hoặc vô hình của một hạt đã gieo trồng. Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có. Nếu không có nhân thì không có quả, nếu không có quả thì không có nhân. Định luật hiển nhiên này mọi người đều nhận thấy. Định luật nhân quả liên tục kéo dài vô cùng tận, như những lượn sóng chập chùng trên mặt đại dương.

 

     Theo “Luật Nhân Quả” một khi đã làm lành, đã hành động thiện, thời quả lành sẽ chờ đợi chúng ta.

 

(Pháp Cú 68)

 

Việc làm rất thiện, rất lành

Nếu làm xong thấy lòng mình thảnh thơi

Chẳng ăn năn, lại mừng vui

Tương lai quả báo đẹp tươi tốt lành.

 

     Khi đã làm lành, đã tạo các nghiệp hiền thiện, người ta có quyền thốt lên nỗi niềm sung sướng an vui khi nhìn thấy kết quả tốt của nghiệp thiện mà mình tạo ra. Một người từng có tâm đạo nhiệt thành và có đời sống đạo hạnh. Ông thường hay bố thí, lại hay dưng thực phẩm và cúng dường các vật dụng cần thiết cho chư Tăng. Các con ông tất cả đều giống tính cha, biết giữ gìn giới đức và chăm lo bố thí. Khi đang hấp hối trên giường, ông thỏa thích nhìn thấy những cảnh trạng hạnh phúc. Sau khi trút hơi thở cuối cùng một cách an vui người ấy tái sinh vào nhàn cảnh. Đức Phật dạy kẻ làm phước, làm thiện sẽ đươc an vui trong kiếp này và kiếp sau, suốt hai kiếp đều an vui. Cả hai đời hạnh phúc vì đã tạo phước, và còn hạnh phúc hơn nữa khi kiếp sau được sinh vào cõi lành.

 

(Pháp Cú 16)

 

Vui mừng ngay ở kiếp này

Kiếp sau cũng lại tràn đầy mừng vui:

Người làm điều thiện ở đời

Thấy chân hạnh phúc khắp nơi theo mình

Quay nhìn việc thiện tạo thành

Sướng vui dào dạt, an lành chứa chan.

 

     Muốn cho niềm an vui tồn tại lâu dài, muốn nuôi dưỡng thiện nghiệp, người trí cần hướng thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp về các việc lành. Người trí chẳng những lo kiểm soát Thân mà còn lo điều phục, bảo vệ Tâm và Ý nữa:

 

(Pháp Cú 18)

 

Đầy tràn vui sướng kiếp này

Sướng vui cũng lại tràn đầy kiếp sau:

Người làm nghiệp thiện vui sao

Nhủ lòng: “Mình tạo biết bao phước lành!”

Kiếp sau sẽ được tái sinh

Vào nơi hạnh phúc an bình chứa chan.

 

     Các câu chuyện về các nhân vật có thật trong xã hội được kể ở trên quả thật một lần nữa khiến chúng ta thấm thía về những lời dạy vàng ngọc của Đức Phật về “Nhân” và “Quả”.

                                                

Tâm Minh Ngô Tằng Giao 

(12 - 2014)



 

Sưu tầm từ Internet

KHI NGƯỜI TA BỊ TỔN THƯƠNG!


 

 

Trong cuộc sống này đến một lúc nào đó ta sẽ bị người khác làm tổn thương... Gia đình, bạn bè, người yêu...

 

Khi người ta bị tổn thương, người ta sẽ đánh mất niềm tin...

Khi người ta bị tổn thương, mọi thứ có thể lành theo thời gian, nhưng những vết sẹo sẽ còn mãi.

Khi người ta bị tổn thương, người ta sẽ đề phòng mọi thứ để không bị tổn thương lần thứ 2.

Khi người ta bị tổn thương, người ta sẽ phải chịu đau đớn về tinh thần, quỵ ngã...

Khi người ta bị tổn thương, người ta có thể làm những việc rất xấu, ích kỷ.

 

CON TIM THIÊN CHÚA LÀ NƠI TRÚ ẨN CỦA TỘI NHÂN Khi người ta bị tổn thương, người ta sẽ cố gắng vượt qua nhưng nó sẽ theo ta cả đời.

 

Khi người ta bị tổn thương, người ta cần mọi người ở bên để hàn gắn lại mọi thứ.

Ai trong đời chả bị tổn thương, chả bị đau đớn vì những điều đó.

Có người không vượt qua được.

Có người vượt qua được, nhưng ai dám chắc rằng khi người ta nhìn lại người ta không thấy đau.

Đừng trách những người làm tổn thương bạn. Hãy vượt qua, hãy cố gắng nhìn lại và coi nó như một bài học cho cuộc đời.

 

Đừng bao giờ nhìn vào một người và đánh giá người ta khi ngã, mà hãy nhìn và đánh giá khi người ta đứng lên sau khi ngã.

Và khi bạn bị tổn thương không có nghĩa là bạn được quyền làm ai khác tổn thương nữa...

 

 Sưu tầm

 

TRỞ VỀ TỪ CÕI CHẾT

(Thương tặng và mừng bạn trở về với bạn bè Bùi Thị Xuân và Sư phạm Áo nâu Dalat)


-A lô. Chúc mừng sinh nhật bà nghe. Dịch dã nên không đi qua bà được. Mà sao tui điện thoại hoài không được.

-Bữa nay sinh nhật tui hả. Tui có biết ngày giờ đâu?

-Sao giọng bà nghe ghê vậy! Bà đau?

-Không khỏe rồi. Tui mới từ bệnh viện dã chiến về.

-Cái gì! Bà bị cô vít?

-Ừ. Tui mệt quá. Mai mốt nói.

 

-Bà sao rồi? Khỏe được chút nào không. Ăn cơm được chưa.

-Tui không phải xài máy thở nhưng vẫn còn nằm trên giường, chưa ngồi dậy nổi. Phải mặc tã cả ngày. Nóng và khó chịu lắm. Giờ này kiếm người chăm sóc không ra. Tui cũng ráng nhịn tiểu nhưng mỗi khi lên cơn ho là không thể kiềm được. Con cái phải làm việc online nên rãnh lúc nào mới ghé nhìn. Tội nghiệp thằng cháu nội thấy tui về, thập thò ngoài cửa : nội về rồi hả, nội còn con vi rút nào không để con vô thăm. Tui khoác tay : thôi con đi đi, mai mốt vô cho nội hun một cái. Tui thương thằng nhỏ lắm. Tui ôm và hun nó đến khi nó la làng mới thôi.

-Thằng nhỏ dễ thương thiệt.

-Tui ăn cơm, mà sao ngán quá, thấy thịt cá là muốn ói. Chả lẽ ăn chay.

-Giờ đang thời kỳ phục hồi, bà ráng đi.

-Tui mệt lắm nhưng thèm nghe tiếng nói chuyện. Mừng từ cõi chết về. Tui nói gì bà nghe đó, đừng hỏi thêm làm tui suy nghĩ đâm mệt.

 

-Bà sao rồi? Khỏe được chút nào không?

-Tui ăn thấy ngon miệng rồi. Mấy ngày, tui ở trong trại cách ly chỉ húp cháo ; ngày cuối được ăn tô nui, trời sao mà ngon. Con dâu cũng tội. Thức ăn mua khó khăn nhưng nó cũng kiếm được món, nấu cho tui. Tui lết ra xe lăn ngày trước ông anh rể để lại, con nó chỉ đẩy vào nhà vệ sinh tắm rửa, không phải bồng nữa.

-Bà ở mặt đường lại nhà tầng riêng biệt, sao bị nhiễm bệnh ?

-Tụi mình gần 70 tuổi rồi có được ra đường đâu, Cả nhà tui xúm xít trong nhà ; con cái mua hàng online, nhận hàng cũng đeo khẩu trang. Bình yên được hơn tháng, tui ho, mấy nhỏ cũng sụt sùi, thằng Cả mua bộ xét nghiệm mất hết mười mấy triệu tự test lấy, ngờ đâu cả nhà dương tính hết. Để coi : chị Ba, tui, vợ chồng thằng Cả với 2 đứa con nó. Sáu người cả thảy, tụi tui bị đưa đi cách ly. May mắn, năm người về rồi còn chị Ba thôi.

 

….

-Bà sao rồi ? Đứng được chưa.

-Khỏe ! Khỏe rồi. Tui dựa tường đứng lên rồi. Tui thương thằng Cả, để nó phải chăm mình tắm rửa, đi vệ sinh, tui không đành ; thà là con gái chứ nó con trai cũng tội. Mà cái thằng có hiếu thiệt, tối ngủ nó kê ghế bố gần tui, nó không dám để tui một mình. Vợ chồng thằng Út không qua được, nó gọi điện hằng ngày, nhìn khóc. Chị Ba về rồi. Chị ở phòng khác, tui cũng chưa thấy mặt.

-Khi nào gặp chị Ba, cho tui gởi lời thăm, mong chị mau khỏe. Mà bà chữa ở bệnh viện nào ?

-Ban đầu 6 người nhà tui cách ly ở một khách sạn, phòng hơi chật nhưng thoáng. Hai ngày sau, tui với chị Ba trở bệnh nặng, tui đi trước vô bệnh viện dã chiến Thủ Đức, còn chị Ba đi bệnh viện nào tui không rõ nhưng chỗ chị có nhiều ma soeur chăm sóc và chìu bệnh nhân nên nghe thằng con nói lại chị còn xài máy thở nhưng ăn tốt hơn tui.

 

….

-Bà sao rồi ? Làm được gì rồi ?

-Tui ăn được. Tui lần tường đứng dậy vô thăm chị Ba. Chị còn yếu. Thằng Cả không lo tui nữa mà qua canh chị suốt ngày đêm, sợ rủi chị thiếu oxy là dễ đi lắm.

-Bà khỏe ra, chị Ba cũng đã về mà sao giọng buồn thiu vậy.

-Thằng Cả mới cho hay : má vợ với bà ngoại vợ nó cũng mất trong đợt này. Tụi nó biết khi còn khu cách ly, giờ còn chưa được ra khỏi nhà để qua thắp nhang cho bà và cụ. Tội nghiệp con dâu, nhà nó có 2 chị em thôi ; nên tui là người thân già nhất nên nó không nề hà chăm sóc. Nhà chị Hai tui cũng bệnh hết cả nhà, chị già hơn mình mà qua khỏi, thằng con rể mới hơn 40 lại chết. Đợt này nhà tui nạp mạng cho bà Cô Vít hết 3 người.

 

-Bà sao rồi ?

-Tui chống gậy đi lẩm chẩm trong phòng. Cái bệnh này ghê quá, nó tàn phá sức của mình kinh quá. Tui ốm gần 10 ký. Thằng con vô đón, nhìn tui không ra, nó khóc quá chừng. Bà mở camera nhìn cái tay tui nè, nó cà khỏng cà khẻo. Ghê không.

-Giọng bà giờ tươi tỉnh nhiều rồi đó.

-Ừ. Mới về, tui còn sảng hồn nói lung tung, không đầu không đuôi. Giờ tỉnh táo, tui kể bà nghe : họ đưa tui vô bệnh viện dã chiến thì tui mệt nhiều rồi, cứ nằm thiếp thiếp ngủ, sốt nhè nhẹ nhưng không nhấc người lên nổi. Bà biết tui mà : tui khỏe mạnh, một tay chăm bà ngoại chồng 9 năm bị tai biến, nuôi má bệnh 3 năm, có khi bà trở chứng vác cây rượt tui hoài, phụ chị Ba trông anh rễ mấy năm trên xe lăn, chăm sóc ông chồng cả năm vì ung thư. Tui kỹ lưỡng nên ở máy lạnh mà trong phòng vẫn thơm tho. Tui biết người bệnh họ muốn gì, đâu phải chỉ cho ăn uống mà còn thủ thỉ chuyện trò. Vậy mà ở đó, tui nằm thui thủi một mình, tiêu tiểu tại chỗ, thèm miếng nước phải nhờ người lạ rót. Tủi thân ghê.

-Ừ ! Khi khỏe không sao khi đau mới thấy cần người thân bên canh.

-Bệnh viện của tui ở tận Thủ Đức, chung quanh đồng không mông quạnh, ban đêm lạnh như ở quê mình. Xe cứu thương tới chở nên tui vội mang túi xách đựng quần áo, con nó bỏ vào túi quần ít tiền, không mang cả điện thoại. Khi hoàn hồn không nhớ nổi số điện thoại của con để nhờ ai đó gọi giùm. Tụi con xét âm tính xong được trở về nhà, thằng Cả nhờ bạn làm bác sĩ tìm hoài mới ra tui, nó chưa kịp gởi đồ vào, hôm sau tui được xuất viện.

-Kinh khủng quá.

-Phòng của tui có mấy chục người bệnh, tui nằm ở gần đường đi nên cũng thoáng. Tui nằm thiêm thiếp ngủ, mê mê, tỉnh tỉnh. Bác sĩ, y tá, điều dưỡng tận tâm nhưng làm không xuể. Phải nói không nhờ mấy cô y tá thì bệnh nhân còn chết nhiều. Tui nhớ nhất là cô y tá tên Cúc với Hoa. Hai cô để ý tới tui. Họ nói : con thấy cô hiền lành, sạch sẽ con thấy thương. Cô ráng ăn chút cháo cho tỉnh người, cô không ăn là chết đó. Con nói cô nghe, khi nào khỏe chút, cô phải nhớ đi tắm rửa. Phụ nữ phải sạch sẽ mới sống được.

-Họ sống có đức ghê.

-Ừ ! Họ chăm mình kỹ lắm, tới bữa dậy không nổi, họ dỗ ngọt, đút từng muỗng cháo. Họ thay tã cho mình mà không thấy ghê. Có lần tui nói với cô y tá : cô nói con nghe, giờ cô không có tiền, con thương cô cho cô mượn một ít, sau này con cô vô thăm, nó trả lại : con mua giùm cô 2 tấm khăn lông lớn, không cần phải tốt ; con hơ cho nóng, rồi dìu cô vào nhà vệ sinh cho cô tắm, tắm xong, con lấy khăn lông nóng đó phủ lên người giùm. Cổ nói: để con cho cô cũng được. Cổ giúp tui tắm hai lần, nhờ vậy mà tui khoẻ ra. Khi về nhà, tui không biết tên họ đầy đủ hay xin số điện thoại để cám ơn. Tui nhớ ơn họ suốt đời dù không thấy rõ mặt vì lúc nào cũng mặc đồ bảo hộ với đeo khẩu trang.

-Trời Phật khiến người giúp bà đó.

-Nói cho ngay, họ làm không xuể nên tự mình phải làm thêm. Những người bệnh giúp nhau trong cảnh khổ, người khỏe dìu người nặng đi ra nhà vệ sinh, đút ăn, thay tã... Nhất là mấy đứa còn trẻ, tụi nó tội lắm.

-Chết nhiều lắm hả bà.

-Nhiều chớ, mỗi ngày bệnh nhân vào phòng thêm chục người thì có ngần ấy người chết. Tui mê man nhiều khi tưởng như mình đã chết.Tui mơ thấy những người mặc đồ đen đi tới từng giường người bệnh thì y như ngày hôm sau người chết đó. Lúc tỉnh, tui niệm Phật Quán Thế Âm và hằng nghĩ không thể chết trong bệnh viện, phải về gặp con cháu. Tui ám ảnh hình dáng to con mặc đồ bảo hộ của ông lo việc đưa xác người chết. Ông đó tới là có chuyện, y như thần chết cầm lưỡi hái gõ cửa. Tui không nhìn, chỉ nằm nghe tiếng xé băng keo để quấn vô ni lon bọc xác người chết mà thất thần. Âm thanh rợn người, tới giờ tui vẫn còn sợ. Kinh hoàng.

 

-Bà sao rồi? Khỏe rồi ha.

-Ừ ! Bữa nay tui chống gậy vô thăm chị Ba, ra ngoài hiên phơi chút nắng. Tụi tập thở, làm vài thế yo ga, quơ tay quơ chân. Tui nhờ con dâu tẩm bổ nên lên được vài ký, nhìn đỡ gớm. Tui ngẫm nghĩ : chờ bớt dịch, tui bán nhà này chia cho con. Thằng Út còn ở nhà thuê, thằng Cả cũng cần thêm vốn làm ăn. Mà giờ tui mới bình tâm hỏi thăm bạn bè.

-Ừ. Bà tính vậy cũng hay. Mấy người bạn ở quê bình an. Ở đây, vợ chồng Minh nhiễm bệnh, Minh khỏi về nhà nhưng ông chồng mất, năm ngày sau nhận cốt. Nó khóc quá chừng : khi đi tuy bệnh nhưng vẫn mạnh khỏe, khi về có hủ tro, không kịp nói lời từ giã. Bà sui gia của Hoa, lớp trưởng mình, bị nhiễm cô vít, con làm bác sĩ nên ông sui thương vợ ốm yếu xin vào chăm sóc. Bà khỏe về nhà, còn ông thì không. Thầy dạy văn của mình cũng mất rồi. Đám người quen trong xóm xuống Saigon làm ăn cũng chết một mớ.

-Chỗ bà sao rồi.

-Tui hả ! Thì như ở trong chảo lửa, cái gì bà trải qua là những gì tui lo lắng. Cũng ớn lạnh. Chung cư phong tỏa mấy tầng, chừng 30 người nhiễm bệnh. Giờ cho tự chữa tại nhà. Bên tui chuẩn bị chu đáo : lập đội bác sĩ tư vấn, mua bình oxy, máy thở để lo cho người trong chung cư nên không ai trở nặng phải vào bệnh viện. Tui cũng được chích một mũi vắc xin. Nói ngay. Bà giỏi đó, đã bước qua cửa tử nên giờ cô vít không làm gì được.

 

22.9.2021

Phạm Thị Mai Hương

 

Sưu tầm từ Internet

 TẠI SAO TÔI HAY CƯỜI?


Trong đời sống hằng ngày tôi hay cười mỗi khi giao tiếp với ai, và nụ cười của tôi cũng luôn có mặt trong các e-mail. Sau đây là một số lý do giải thích “Tại sao tôi hay cười”

 

Để ý các em bé, tôi thấy những em hay nhăn nhó thường bị người lớn cảm thấy khó thương, không quan tâm nhiều, không thích gần gũi và dễ bực mình. Trong khi các em hay cười luôn là trung tâm của sự chú ý. Các em làm cho người lớn lây bệnh cười, làm họ thích chơi đùa, nói chuyện và vui vẻ nuông chìu các em. Nói chung, nụ cười của trẻ em thường đem lại sự cởi mở tấm lòng, niềm hạnh phúc, và sự gần gũi cho người lớn.

 

Trẻ thơ thường hay cười, vì bất cứ chuyện gì, bất cứ lúc nào và cười một cách vô cớ – đó là những lý do tại sao người lớn mê con nít. Trải qua tuổi thơ, đứa bé bắt đầu ít cười vì vấp phải sự khắt khe của lễ giáo. Rồi khi ra đời, sự bương chải và mưu sinh làm cho ta mất dần nụ cười và tiếng cười – ngược hẳn với thời thơ ấu. Tuy nhiên, vẫn còn vô số người với nụ cười luôn nỡ trên môi.

 

Nhìn vào những danh nhân trên thế giới, tôi thấy, người nào càng thành công thì họ càng hay cười. Ví dụ như ông Obama, bà Clinton, ông Bill Gates… Thật dễ hiểu tại sao họ cười nhiều. Trên con đường leo lên những nất thang danh vọng ai cũng phải tận dụng tối đa mọi cơ hội, mọi năng khiếu, mọi mối quan hệ, mọi phương tiện, tiền bạc… và dĩ nhiên, họ không bao giờ quên lợi ích của nụ cười và vì tận dụng nhiều nên dần dần họ có luôn thói quen hay cười mỗi khi giao tiếp. Quên sao được khi mà tất cả những thứ khác cần phải tốn nhiều tiền, thì giờ hay công sức mới có thể có được; trong khi nụ cười tạo ấn tượng tốt, có tác động tâm lý sâu xa, tác động tức thời và nó hoàn toàn miễn phí; chỉ trong tích tắc là có ngay và cười cả tỷ lần cũng không mất đồng xu nào. Vậy, cười là một trong những phương tiện giúp ta thành công.

 

Mỗi lần ra đường, gặp người chạy xe ôm, cô bán hàng, anh phục vụ, nhân viên ngân hàng, bà chủ nhỏ, ông bác sĩ, cô thư ký…. mỉm cười với tôi là tôi cảm thấy giảm đi sự mệt nhọc, cảm thấy thân mật, thoả mái để nói chuyện và bỗng yêu người, yêu đời hơn. Do đó, khi ra đường tôi chỉ muốn tiếp xúc với người ưa cười. Vâng, cười làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc.

 

Tôi thấy, chỗ nào làm ăn phát đạt là chỗ người ta hay cười. Ngược lại, không có hay thiếu nụ cười thì sớm hay muộn cũng bị ế ẩm và khó tồn tại lâu. Do đó, tôi thường nghĩ, tại sao nhiều doanh nghiệp thỉnh thoảng bỏ ra một đống tiền để quảng cáo, nhưng họ không chịu tận dụng nụ cười, trong khi nụ cười có giá trị tiếp thị hữu hiệu hơn nhiều. Theo tôi, nụ cười rất có giá trị cho việc giao dịch, buôn bán, và quảng cáo.

 

Cười nhiều là biểu hiện của sự mưu cầu hạnh phúc, cho nên tôi hiếm khi có vấn đề với ai và hiếm bị người ta ghét. Cười nhiều cũng là biểu hiện của sự ưa chuộng ôn hoà, thân thiện và bình yên. Cho nên khi tôi có lỗi hay lỡ lời, người hồ đồ, hiếu chiến, người thường lớn tiếng cũng dễ bỏ qua và lo kiềm chế cơn giận, vì thấy thái độ thân thiện của tôi và vì tôi không giành hay cướp lời, không to tiếng, không khiêu khích hay châm thêm dầu vào lửa. Vậy, theo kinh nghiệm của tôi, cười cần thiết cho người muốn sống đời hoà bình.

 

Nhiều người mặt mày trông khó ưa, hung dữ hay không được đẹp, nhưng khi họ chịu mở miệng cười là thường trông dễ nhìn ngay và nếu họ chịu cười nhiều thì từ từ sẽ trở thành người trông khả ái, ví dụ, bà tỉ phú Oprah, bà Whoopi, bà Michelle O…. Khi cười mặt của ta trở nên sống động, hấp dẫn. Nụ cười trở thành trung tâm của sự chú ý, nó làm cho người nhận tự động mỉm cười lại và không quan tâm đến một vài khuyết điểm nhỏ nhặt trên khuôn mặt. Và khi đã cười tươi với nhau được, thì suy nghĩ của ta thường tự động chỉ thích hướng đến cái tốt, cái đẹp và sự tích cực. Do đó không sai khi nói, cười là cách diễn đạt cảm xúc tuyệt vời nhất của con người.

 

Tập thói quen cười có khó lắm không? Không khó. Nếu những người bạn tiếp xúc hằng ngày ít cười thì bạn cần chủ động cười mỗi khi nói chuyện. Ở nhà thì dễ lắm. Hãy đề nghị cả nhà cùng cười nhiều hơn và cùng nhắc nhỡ với nhau. Đừng quên cho bộ răng tươi đẹp của mình có mặt khi chụp hình hay khi quay phim. Nhất quyết chỉ treo lên tường hay chỉ cho vào khung những hình cười thật tươi. Tại bàn làm việc ở chỗ làm nên có hình chân dung cười của con, của bạn trai/gái hay của vợ/chồng/cha/mẹ… Nói chung, nhìn thấy nụ cười ở mọi nơi và nhìn thấy thường xuyên sẽ có tác dụng tốt cho bạn. Dĩ nhiên, không thể có kết quả liền, mà phải từ từ những hình ảnh hạnh phúc, rạng rỡ đó mới ngấm sâu vào bạn.

 

Còn khi bạn muốn (bỗng) lên tinh thần trong lúc đang cảm thấy buồn vời vợi thì tôi có cách này: hãy nhìn xem mình mỉm cười đủ kiểu trong gương, hoặc là bạn tự mỉm cười trong khi nhắm mắt tập trung vào ý nghĩ mình đang cười tươi. Chỉ cần vài ba phút là khuôn mặt bạn trở nên hồng hào, tươi tắn, và nỗi buồn của bạn đã biến mất lúc nào không hay.

 

Tuy nhiên, có một điều cần nhớ là, nụ cười thật lòng không phải chỉ là nhe răng ra cho người ta thấy hoặc chỉ nhếch miệng chút ít. Nụ cười chỉ có ý nghĩa tốt đẹp khi ta cười với cả tấm lòng hay khi nụ cười có xuất phát từ tâm. Lúc đó nụ cười sẽ có hồn, có nghĩa là phải có ba thứ tham gia tạo ra nụ cười: cái miệng, hàm răng và đôi mắt.

 

Paulle

THƯƠNG MỘT NGƯỜI - KHÁNH LY

 

Sưu tầm từ Internet

ĐÂU LÀ CỦA RIÊNG AI


Có một anh chàng trai nghèo khổ nhưng lại có một tâm đạo rất lớn. Mặc dù gia cảnh vất vả nhưng lúc nào anh cũng mong muốn tìm cho mình một con đường hạnh phúc, một hạnh phúc chân thật và không đổi thay. Mỗi khi nghe nói bất cứ nơi đâu có vị thầy nào giỏi, thì dù hoàn cảnh khó khăn anh vẫn lặn lội tìm đến để cầu đạo. Nhưng qua bao năm tháng anh vẫn không đạt được những gì mình muốn, hạnh phúc mà anh tìm kiếm vẫn thấy quá xa xôi.

Một đêm khi anh ngủ, trong giấc mộng có một vị thần hiện ra dặn anh sáng mai hãy đi thật sớm đến một khu rừng gần đó, anh sẽ gặp một vị tu sĩ, và hãy hỏi thì ông ta sẽ giúp cho anh có được một cuộc sống hạnh phúc.

Sáng hôm sau, anh ta mừng rỡ vội vàng lên đường đi về khu rừng ấy. Đến nơi, anh gặp một vị tu sĩ ăn mặc đơn sơ, y áo làm bằng những tấm vải vụn vá lại, ngồi dưới một gốc cây lớn dáng rất an vui và tự tại. Nhớ lời dặn của vị thần trong giấc mơ, anh quỳ xuống thưa:

“Kính thưa thầy, bấy lâu nay con đi tìm một con đường hạnh phúc. Con muốn đạt được một cái gì đó mà có thể giúp con luôn được an vui và tự tại trong mọi hoàn cảnh. Con đã đi tìm cầu khắp nơi, và học từ nhiều vị thầy, nhưng vẫn không cảm thấy đạt được những gì mình muốn. Con xin thầy thương sót từ bi chỉ dạy cho con.”

Vị tu sĩ ngước nhìn anh với ánh mắt từ ái, rồi nói, “Thú thật ta cũng không có gì khác để dạy cho anh thêm nữa hết." Rồi vị tu sĩ cúi xuống tìm trong túi vải mình và lấy ra một vật, ông nói, "Ta chỉ có một vật này, không biết của ai cúng dường cho, thôi anh hãy cầm lấy đở đi".

Nói xong, vị tu sĩ trao cho anh một vật trông như một viên đá chiếu sáng lấp lánh. Anh cầm trong tay và xem kỹ lại thì đó là một viên ngọc quý rất lớn. Tim anh như ngừng đập! Chưa bao giờ anh được thấy, chứ đừng nói là cầm trong lòng bàn tay, một vật quý giá đến như vậy. Với viên ngọc quý này, nó có thể mang lại cho anh bất cứ một hạnh phúc nào trên cuộc sống mà anh muốn. Phải chăng con đường hạnh phúc mà anh đang tìm kiếm bấy lâu nay, nó đang rộng mở ra ngay trước mặt mình.

Anh mừng rở vô cùng, bật khóc và quỳ xuống đảnh lễ vị tu sĩ. Anh nhà nghèo từ giã vị tu sĩ và trở về căn chòi cũ của mình. Đêm hôm ấy anh trằn trọc và không tài nào ngủ được, anh cứ mơ tưởng về tất cả những sự sang giàu, quyền lực, địa vị và hạnh phúc trên cuộc đời mà mình có thể đạt được nhờ viên ngọc này. Và, anh cũng suy tư sâu xa về giấc mộng và vị tu sĩ ấy…

Sáng hôm sau, khi mặt trời chưa lên, anh đã vội vàng lên đường quay trở lại khu rừng ấy. Anh mừng rở khi thấy vị tu sĩ vẫn còn ở đó, ngồi yên với dáng thong dong. Anh đến cạnh bên và quỳ xuống thưa:

“Thưa thầy, con xin trả lại thầy viên ngọc quý này. Con đã suy nghĩ nhiều và hiểu rằng, viên ngọc quý này không thể nào mang lại được cho con một hạnh phúc mà con muốn. Điều mà con mong cầu, là làm sao có được cái tấm lòng của thầy mà đã có thể trao cho con viên ngọc quý ấy không chút luyến tiếc. Chứ con không cần viên ngọc này. Kính xin thầy chỉ cho con làm sao để có được tấm lòng rộng lớn ấy.”

 

Tặng một vầng trăng

 

Câu truyện ấy gợi tôi nhớ đến vị thiền sư thi sĩ Nhật bản Ryokan. Thiền sư Ryokan sống một cuộc đời rất thanh bần, ông ở trong một thảo am mái lợp bằng rạ. Buổi tối ông ngồi thiền và ban ngày thường chơi đùa với trẻ con trong làng. Có lần, ông thấy giữa am mình có một búp măng tre mọc nhú lên, rồi ngày qua ngày nó mọc lớn lên thành một cây tre cao đụng vào nóc nhà. Thấy thương cho cây tre, ông bèn khoét một lỗ trên mái để nó có thể thong dong chui qua ra ngoài.

Vào một đêm trăng sáng nọ, có một tên ăn trộm lẻn vào lều của ông. Hắn nhìn quanh không thấy có gì để lấy, vì Ryokan chẳng có gì ngoài chiếc chăn để đắp ngủ. Tên ăn trộm bèn đánh cắp cái chăn duy nhất của ông và chạy thoát ra ngoài. Một lát sau, hơi lạnh thấm vào người, Ryokan giật mình thức giấc mới biết là mình đã bị trộm lấy mất.

Lúc đó, ông ngước nhìn qua khung cửa sổ, thấy một vầng trăng vằng vặc sáng trên cao. Ryokan chợt thốt lên: “Ô! Vầng trăng đêm nay đẹp quá! Ước gì ta có thể tặng cho tên trộm ấy vầng trăng tuyệt đẹp này?”

 

Ai ban cho mà ai tiếp nhận?

 

Tôi thấy câu truyện về vầng trăng của thiền sư Ryokan cũng giúp làm sáng tỏ thêm tấm lòng của vị tu sĩ trong câu truyện trên.

Làm sao Ryokan có thể tặng cho tên trộm được vầng trăng sáng ấy bạn nhỉ? Cũng như vị tu sĩ kia, ví như ông có muốn trao cho anh nhà nghèo tấm lòng của mình đi chăng nữa, như anh mong muốn, có chắc gì anh ta sẽ tiếp nhận được chăng? Người cho không thể cho mà người nhận cũng chắc gì sẽ nhận được.

Tôi thường nghe nói rằng, chúng ta chỉ có thể trao tặng những gì mình thật sự có mà thôi. Ví dụ, ta chỉ có thể tặng cho người khác niềm vui nếu như ta có sự an vui, ta chỉ có thể giúp cho người khác không sợ hãi nếu như trong ta có được một sự vô úy. Đó là một điều rất thật. Nhưng bạn biết không, nếu nhìn sâu sắc hơn thì ta cũng sẽ thấy rằng, thật ra chúng ta không có gì để ban cho hay tiếp nhận, mà chỉ làm điều kiện giúp nhau tiếp xúc lại một thực tánh trong sáng đang sẵn có trong mỗi người mà thôi.

Như một bà mẹ ôm đứa con đang khóc của mình vào lòng và dỗ cho nó. Khi đứa bé nín khóc và ngủ yên, bà mẹ cũng cảm thấy một niềm an vui và hạnh phúc. Ai là người cho và ai là kẻ nhận bạn hả?

 

Có mặt ở mọi nơi

 

Trời vùng tôi ở tháng này đã vào thu, khi buổi sáng trời trở lạnh và ngày ngắn đi, khi bình minh đến chậm và chiều buông cũng vội vàng hơn. Không gian trời Thu thật đẹp. Rừng cây một màu xanh mấy tuần trước giờ đã chuyển thành một bức tranh Monet muôn sắc màu sặc sỡ. Con đường tôi đi có muôn chiếc lá đủ màu, và mỗi khi có gió lộng không trung tràn ngập những màu sắc cam, vàng, đỏ, tím tung bay. Những lúc đứng trước một cảnh đẹp tuyệt mỹ của đất trời, tôi ước gì cũng có một ai khác đang ở đây để được cùng chia sẻ. Nhưng tôi hiểu rằng vẽ đẹp và sự chân thiện có mặt ở mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, chứ đâu riêng gì ở nơi này trên con đường nhỏ mùa thu vào một buổi chiều lộng gió...

Như vầng trăng sáng kia muôn đời là của chung, chứ đâu là của riêng ai để ta mơ ước hay ban tặng cho nhau? Nhưng bạn biết không, tôi biết chắc được một điều, chúng ta bao giờ cũng có thể là điều kiện để nhắc nhở và mang lại hạnh phúc ấy cho nhau...

 

 Sưu tầm từ Internet

ĐI BỘ VÀ SỨC KHỎE



"Đi cho chân cứng đá mềm..."

Thân thể khoẻ mạnh mới yên tấm lòng !


Đi bộ là "ông tổ" của hàng trăm bài luyện tập, mỗi bước đi là một liều thuốc bổ: Vận động hay không, sự khác biệt lớn nhất phản ánh trong 10 năm cuối đời.

 

Vận động thường xuyên và tích cực ngay từ bây giờ, sức khỏe 10 năm cuối đời sẽ cảm ơn bạn.

 

Sự khác biệt về tuổi thọ và sức khỏe

 

Tạp chí "Khoa học" của Mỹ đã công bố dữ liệu cho thấy các tỷ lệ mắc bệnh khác nhau của những người tập thể dục và những người không tập thể dục:

 

Tỉ lệ mắc bệnh tim:

Người tập thể dục: 37/1000 – Người ít vận động: 227/1000

Tỉ lệ mắc huyết áp cao:

Người tập thể dục 40/1000 – Người ít vận động: 704/1000

Tỷ lệ béo phì:

Người tập thể dục 4/1000 - Người ít vận động: 808/1000

 

Điều quan trọng nhất là tuổi thọ trung bình: những người thường xuyên tập thể dục sống lâu hơn 11 năm so với những người thiếu sự vận động.

 

Nếu bạn thiếu đi sự vận động, thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường, gan nhiễm mỡ và các bệnh khác sẽ tăng lên. Đi bộ là một cách tốt để loại bỏ việc phải châm cứu hay uống thuốc. Nếu bạn đi bộ nhiều hơn, bạn sẽ khỏe hơn, bệnh tình sẽ thuyên giảm và bạn sẽ uống ít thuốc hơn.

 

"Đi bộ là ông tổ của hàng trăm bài luyện tập"

 

Từ hàng nghìn năm trước, “Đi bộ” đã được y học cổ đại Trung Quốc mô tả là "ông tổ của trăm bài luyện tập", được ca ngợi là thần dược tốt nhất cho loài người. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng đi bộ thường xuyên một cách có kế hoạch có thể cải thiện sức khỏe của nhiều bộ phận trên cơ thể.

 

1. Não

Sải chân vừa phải có thể khuyến khích não tiết ra Endorphin, một chất được gọi là "hormone hạnh phúc" và làm cho sóng não ở trạng thái anpha có lợi nhất cho cơ thể, để các bộ phận khác nhau của cơ thể ở trạng thái hài hòa, thư giãn.

 

2. Tim

Liệu đi bộ có làm tăng gánh nặng cho tim không ? Không, đi bộ sẽ làm giảm huyết áp, giảm lượng chất béo gây tắc nghẽn động mạch, giảm số lượng động mạch khi nghỉ ngơi và thúc đẩy sự lưu thông của các mao mạch tim.

 

3. Tiêu hóa 

Giúp chuyển động đường tiêu hóa và thúc đẩy quá trình tiêu hóa.

 

4. Phổi

Tăng dung tích phổi, tăng sức mạnh của cơ hoành, giảm bớt các triệu chứng viêm phổi và viêm phế quản mãn tính. Giúp giảm ham muốn hút thuốc.

 

5. Lưng

Áp lực lên đĩa đệm khi đi bộ tương tự như khi đứng. So với các môn thể thao khác, nó sẽ không bị thương. Đồng thời, còn có thể tăng cường cơ lưng để củng cố cột sống.

 

6. Xương

Chạy bền tương đương với việc tập tạ cho xương, có thể thúc đẩy cơ thể hấp thụ nhiều canxi hơn và chống loãng xương.

 

7. Đầu gối

Phòng ngừa thoái hóa khớp, điểm chính là duy trì trọng lượng cơ thể thích hợp và tập thể dục để duy trì sức mạnh cơ bắp của các chi dưới. Khi đi bộ, các khớp xương không phải chịu áp lực mà còn có thể tăng cường sức mạnh cho các cơ, có lợi cho khớp gối.

 

8. Chân

Vì 2/3 cơ trên cơ thể con người tập trung ở phần đùi trở xuống nên tất cả các bài tập đều dựa vào cơ đùi và bắp chân. Một khi các cơ này bị teo, người không thể duy trì tư thế đúng, và dễ dẫn đến mỏi, đau đầu gối, đau thắt lưng, v.v.


Tập thể dục cho đôi chân là cách tốt nhất để ngăn ngừa sự suy giảm thể chất

 

1. Đường tiêu hóa

Đi bộ giúp điều hòa đường ruột và dạ dày để ngăn ngừa táo bón. Nếu bạn đi bộ 500 mét mỗi ngày , bạn có thể giảm đáng kể nguy cơ bị táo bón, đặc biệt là tăng cường tăng nhu động đường tiêu hóa, đẩy nhanh quá trình hấp thụ dinh dưỡng và việc thải các chất cặn bã ra ngoài có tác dụng tương đối tốt trong việc phòng và điều trị táo bón.

 

Khi chúng ta đang ngồi hoặc nằm, nội tạng rất chật và “xếp chồng lên nhau”, khi cơ thể chuyển động các bộ phận nội tạng sẽ cảm thấy “thoải mái” vì có không gian để vận động. Vì vậy, thêm một số động tác cơ thể khi đi bộ, chẳng hạn như vặn hông, tương đương với việc “xoa bóp” các cơ quan nội tạng để giúp nhu động đường tiêu hóa, và cho khí đi ra từ bên dưới (xì hơi) thay vì từ trên cao (nấc cụt). Kiên trì thực hiện 10 phút mỗi ngày sẽ có kết quả rất tốt.

 

Trong quá trình đi bộ, tăng cường độ xoay của thắt lưng và hông giúp cơ thể xoay người nhịp nhàng, có thể thúc đẩy quá trình đại tiện, ngăn ngừa táo bón, giảm tỷ lệ mắc ung thư trực tràng.

 

2. Giảm đau nhức cơ

Đi bộ thể dục phù hợp cho mọi lứa tuổi, giúp giảm đau nhức cơ, xương.

 

Đi bộ luân phiên là đi tới trước, đi lùi, đi nhanh, đi chậm xen kẽ, đồng thời thở ra bằng miệng, hít vào bằng mũi. Trong trường hợp bình thường, đi bộ về phía trước sẽ kéo căng các khớp và cơ, tích tụ theo thời gian sẽ gây căng cơ và lão hóa khớp. Đi ngược lại là một cơ chế chấn thương ngược có thể làm giảm hao mòn, giảm đau cơ và thúc đẩy cơ thể tự phục hồi.

 

Kiễng chân để đi bộ có thể tăng cường sinh lực cho thận và dương. Khi chúng ta đi kiễng chân, chính mặt trong của bàn chân trước và các ngón chân sẽ hỗ trợ nó. Có ba huyệt ở bàn chân đó là huyệt Thiếu Dương, Túc Quyết và Thái Dương, đi kiễng chân có thể xoa bóp ba huyệt này, điều khiển khí đi lên, tăng sinh lực cho thận dương thông qua kinh mạch của bàn chân. Phương pháp này cũng có lợi cho bệnh tăng sản tuyến tiền liệt và viêm tuyến tiền liệt mãn tính.

 

3. Giảm eo

Nếu vòng eo của phụ nữ hơn 80 cm, vòng eo của nam giới hơn 85 cm họ có thể đối mặt với nguy cơ quá nhiều mỡ nội tạng. Vì vậy, hiện nay người ta chủ trương “có sức khỏe, trước tiên phải giảm vòng eo.” Khi đi bộ, cõng và thêm một số động tác khác (như nhịp chân) có thể giúp giảm vòng eo.

 

Hai bên thắt lưng có một huyệt có đường vân (lấy một đường ngang rốn làm tâm, một đường dọc nách làm điểm xuất phát. Giao điểm của hai đường thẳng là huyệt đó). Nếu bụng mềm và "bự", bạn cũng có thể dùng cả hai tay đánh trái và phải khi đi bộ.

 

Kiên trì thực hiện trong nửa tiếng mỗi ngày đảm bảo vòng eo của bạn giảm xuống nhanh chóng.

 

4. Giảm nhức chân

Ngày nay, nhiều người đi bộ một cách vô thức và không sử dụng lực chân, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến bàn chân dễ bị gãy xương. Nếu bạn học cách đi bộ đàn hồi - bật bàn chân khi đi bộ, mỗi bước đi của bạn sẽ giữ cho hàng chục cơ bắp dưới bàn chân của bạn vốn là bộ phận rất quan trọng tràn đầy sức sống.

 

5. Rèn luyện cơ

Tất cả các loài động vật trên thế giới đều đi thẳng, chỉ có cua đi ngang. Nếu một người học cách đi bộ ngang như cua, thì nên làm cho trọng tâm của cơ thể di chuyển bằng bàn chân bắt chéo bất cứ lúc nào và di chuyển tay tự do theo tốc độ đi.

 

Chú ý duy trì cảm giác nhịp nhàng, phương pháp đi bộ này có lợi để rèn luyện sức mạnh cơ bắp chân và cơ hông, tăng cường sự linh hoạt của khớp hông và khớp cổ chân, cải thiện khả năng giữ thăng bằng của cơ thể.

 

Bạn có thể chọn không tập thể dục, nhưng so với việc bạn có tập thể dục, sự khác biệt lớn nhất sẽ được phản ánh trong 10 năm cuối đời của bạn  !  Bạn hy vọng 10 năm cuối đời của mình sẽ như thế nào ?

LẶNG LẼ NƠI NÀY - KHÁNH LY

 Sưu tầm từ Internet

HIỂU ĐỜI – TÂM SỰ TUỔI GIÀ

 


Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh, nhưng chỉ có hiểu cuộc đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

 

Qua một ngày, mất một ngày .Qua một ngày, vui một ngày. Vui một ngày lãi một ngày...

 

Hanh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc và vui sướng là cảm giác và cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

 

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng có coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng ai mang nó đến, khi chết chẳng ai mang nó theo. Nếu có người cần bạn giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khoẻ và niềm vui thì tại sao không bỏ tiền ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đùng làm tôi tớ cho nó.

 

"Quãng đời còn lại càng ngắn ngủi thì càng phải làm cho nó phong phú". Người già phải thay đổi cũ kỹ đi, hãy chia tay với "ông sư khổ hạnh" hãy làm "con chim bay lượn". Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao phẩm chất cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của TUỔI GIÀ.

 

Tiền bạc nếu có sẽ là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khoẻ là của mình.

 

Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn. Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một cái, hỏi vài câu là thấy đủ rồi. Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào. Nhà cha mẹ là nhà của con; nhà của con không phải là nhà cha mẹ. Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

 

Ốm đau trông cậy vào ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu "cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử". Trông vào bạn đời ư ? Người ta cũng yếu, có khi lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Trông cậy vào đồng tiền ư ? chỉ còn cách ấy.

 

Cái được người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong đời tuỳ thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người ta hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì cho mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

 

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình "Tỷ thượng bất túc, tỷ hạ hữu dư", biết đủ thì lúc nào cũng vui "tri túc thường lạc".

 

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt mỏi, tự tìm niềm vui. Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

 

Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ người ta cũng nghĩ cả rồi, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra nghề cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

 

Quá nửa đời dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc gì muốn làm thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình.

 

Sống trên đời không thể vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

 

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; tuổi không già tâm già, thế là không già lại thành già. Nhưng giải quyết một vấn đề thì nên nghe già.

 

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá thanh đạm thì khôhg đủ chất bổ, quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu... mọi thứ đều nên "VỪA PHẢI".

 

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn, tham uống..) Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh....). Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống. Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới chữa bệnh....ĐỀU LÀ MUỘN.

 

Phẩm chất sống người già cao hay thấp chủ yếu tuỳ thuộc vào cách suy tưởng: Suy tưởng hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng suy tưởng hướng lợi để xây dựng cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và tự tin, cuộc sống có hương, có vị. Suy tưởng hướng hại là suy tưởng tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết

 

"Chơi " là một trong những nhu cầu căn bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi yêu thích nhất, trong khi chơi hãy thử nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm lý và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

 

"Hoàn toàn khoẻ mạnh" đó là nói thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh.. Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu...

 

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị của mình đó là cách sống lành mạnh.

 

"Cuộc sống tuổi già nên có nhiều bạn gìà trong nhiều thành phần,nhiều mẫu người với nhiều màu sắc khác nhau trong xã hội. Có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình đẹp làm thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

 

Con người ta chịu đựng, hoà giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình.Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất, quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống như thế nào.

 

Tại sao khi về già người ta hay hoài cổ "hay nhớ lại chuyện xưa?" Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân ga cuối. Tâm linh cần trong phòng, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tìm lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thủa nhỏ, cùng bạn sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thanh là một niềm vui lớn của tuổi già.

 

Nếu bạn đã cố hết sức, mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó. Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

 

"SINH - LÃO - BỆNH - TỬ" là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình dấu chấm hết thật TRÒN.

 

Tác giả: Chu Dung Cơ

Người dịch: Thanh Dũng