Sưu tầm từ Internet

NHỮNG CÂY THÔNG ÐÀ LẠT
NGUYÊN NHUNG

  
   Nếu không tình cờ nhận được cú phôn của người bạn cũ, tôi đã không biết là Huy giờ này cũng đang có mặt trên nước Mỹ. Ba mươi năm rồi còn gì, kể từ khi Huy rời trường mẹ Ðà Lạt, ngày ra trường anh được thuyên chuyển về một chiến trường miền Ðông, hai đứa xa nhau từ đấy. Những mối tình Ðà Lạt, như đã bị vùi chôn trong thung lũng mù sương, tự nhiên bỗng sống lại khiến lòng tôi xúc động đến ngậm ngùi. Hóa ra có những điều người ta tưởng có thể quên, mà nó vẫn còn đó, vẫn mập mờ ẩn hiện trong những cây thông, mà tôi gọi là Những Cây Thông Ðà Lạt.

     Ðiều ngỡ ngàng hơn cả khi nghe người bạn kể lại, tình cờ gặp Huy trong một buổi họp mặt ở Cali, Huy đi đứng không được bình thường, hóa ra anh bị cụt bên chân phải, đã được gắn một chiếc chân giả. Ðiều này khiến thắc mắc của tôi về lá thư của chàng gần ba mươi năm trong phút chốc đã được giải đáp, chưa chắc Huy đã phụ bạc tôi như lá thư chàng viết về Ðà Lạt sau ngày chàng ra đơn vị. Lá thư như một vết dao cứa nát trái tim người con gái miền cao nguyên, khi hai đứa đã có một cuộc tình thật nên thơ suốt bốn năm chàng còn là một sinh viên trường Võ Bị.

     Những lá thư nồng nàn bỗng nhiên bị cắt đứt một thời gian trong bao nhiêu hờn giận lo lắng, không hiểu Huy thời gian ấy ra sao khi những mặt trận càng ngày càng khốc liệt, từ chiến trường miền Trung tới chiến trường miền Nam. Khi ấy Huy là một đại đội trưởng, đơn vị chàng trú đóng ở vùng Long Khánh, nơi có những rừng cao su đất đỏ mà chàng bảo rằng ở đây chỉ một đoạn đường chàng có thể bay về Ðà Lạt, và cũng có thể về Sài Gòn để được gần gũi mẹ già.

     Trong tôi chập chùng bao kỷ niệm của Ðà Lạt năm xưa, bốn năm có chàng ở Ðà Lạt, một thời gian hoa mộng của những chiều thứ Bảy trên đồi thông, khu rừng Ái Ân bên bờ hồ Than Thở, đã ghi lại bao nhiêu đằm thắm cuả một mối tình, chỉ có những cây thông làm chứng cho những lời hẹn thề, gắn bó. Những sáng chủ nhật Ðà Lạt nắng ấm, quanh khu Hòa Bình, ven bờ Hồ Xuân Hương mặt nước lặng lờ, Ðồi Cù bãi cỏ xanh, Lâm Viên lộng gió, nơi nào cũng có tiếng thông reo, nơi nào cũng có nắng ấm và gió lạnh, nơi nào cũng có bước chân chàng và tôi ở đó.

     Vậy mà Huy đã có thể quên, khi rời xa Ðà Lạt chàng bỏ lại người yêu bé bỏng , có căn nhà gỗ xinh xinh nơi dốc hoa vàng, những cánh hoa mimosa li ti rơi kín mặt đường khuya như bài thơ chép vội vàng trong lớp học, một buổi sáng nhớ chàng đến quay quắt:

"Chỉ tại anh nên trời khuya trở gió,
Mimosa phủ kín mặt đường khuya,
Vương đầy tóc, em bắt đền anh đó,
Gỡ giùm đi, đứng cười mãi ô kìa!"
                   (Thơ Nhất Tuấn)

     Thuở học trò những bài thơ chép đầy trang vở, tình yêu không chỉ lúc một mình trong một nơi yên lặng, mà nó còn xôn xao len lén vào trong lớp học. Bởi vậy, khi lá thư cuối cùng của Huy gửi về Ðà Lạt, như một cắt đứt mà chàng cho rằng chẳng qua định mệnh đã oái oăm chia lìa, để hai đứa phải xa nhau. Huy đã quen một người con gái nơi chàng trú quân, và cũng vì những giây phút yếu lòng của tuổi thanh niên, Huy đành phải chấp nhận người đàn bà ấy làm vợ, khi cô ta đã mang trong mình giọt máu của chàng.

     Lá thư ấy đến Ðà Lạt một thời gian sau ba tháng chàng bặt tin, như một tiếng sét trong cơn mưa, hầu như đã tàn phá tất cả bao hình ảnh đẹp trong lòng tôi thuở ấy. Hình như những cây thông đều rũ xuống và không còn mang theo tia nắng ấm reo vui những ngày Ðà Lạt mộng mơ. Hình như cả Ðà Lạt đều hay tin tôi bị tình phụ. Hình như trong đám bạn bè đã có những nụ cười mỉa mai dấu kín trong ánh mắt. Hình như và hình như, những con đường, những bờ cỏ, những đồi thông năm xưa có dấu tích của hai đứa, bỗng một ngày trở thành những bóng đen đè nặng trong lòng người con gái ngây thơ là tôi ngày ấy.

     Nỗi đau như một cơn bão đã cuốn đi tất cả niềm vui tuổi trẻ, khiến trong mắt tôi ngày ấy, hình ảnh những chàng trai Võ Bị, không còn là thần tượng để ngưỡng mộ và say đắm. Tôi nguyền rủa chàng triền miên khi nghe tiếng thông reo và tiếng gió hú mỗi đêm Ðà Lạt mưa gió, gót giày tôi nghiến mạnh lên những bông mimosa vàng úa rớt đầy trên mặt đường khuya, như giày xéo lên những kỷ niệm của tôi và chàng, cho tan nát, cho mất hút đi theo lòng người bội bạc.

     Tự ái của một người con gái không cho phép tôi gậm nhấm hoài mối sầu vạn cổ, như câu chuyện một người con gái Ðà Lạt, cũng vì yêu mà hủy hoại mạng sống, để khi chết còn xin được chôn trên một ngọn đồi, quay đầu về hướng ngôi trường Võ Bị, nơi ngày xưa hai người đã quen nhau ở đó. Tôi yêu Huy thật nhiều nhưng không thể để con tim mềm yếu đến độ chết vì yêu.Tôi phải quên chàng như chàng đã quên tôi, tôi sẽ đi khỏi Ðà Lạt để tâm hồn khỏi gặm nhấm những nỗi sầu với tiếng thông reo trên ngọn đồi cỏ mượt, như tiếng gió lao xao lướt trên mặt hồ những sáng chủ nhật, như những cánh mimosa màu vàng rơi xuống phủ đầy mặt đường khuya.

     Ðịnh mệnh đưa đẩy gia đình tôi rời Ðà Lạt cùng lúc với nỗi đau của cô con gái bị phụ tình. Căn nhà ở dốc hoa vàng để lại cho người cô, tôi xa Ðà Lạt như để vùi quên một nấm mộ tối. Mãi đến sau này sau nhiều năm, khi sắp sửa đi xa hẳn quê hương, tôi bỗng dưng ao ước được trở về Ðà Lạt, thăm căn nhà xưa, và để lần cuối nhìn lại những kỷ niệm cũ từ nhiều năm về trước, thấp thoáng vẫn thấy hình bóng người xưa trên những con đường cũ, và những cây thông Ðà Lạt...

* * *

     Thế là tôi cũng trở về Ðà lạt một lần, trước khi đi xa, để thăm lại người cô ruột nay đã già yếu, vẫn sống trong căn nhà gỗ nơi dốc hoa vàng, gần trường Bùi thị Xuân ngày xưa.

     Chuyến xe về Ðà Lạt vượt đoạn đường đèo, chênh vênh vách núi có những đoạn đường quanh co của miền Ðông nhiều đồi núi và cây rừng. Khi chuyến xe chạy ngang những khu đồi thông nối tiếp nhau để đưa về Ðà Lạt năm xưa, tôi bỗng thấy lòng rưng rưng , và giây phút đó bao nhiêu kỷ niệm về Ðà Lạt lại hiện về trong lòng tôi. Những ngọn thông xanh Ðà Lạt đã đủ sức réo gọi bao hình ảnh năm cũ, khiến tôi không khỏi thở dài nghĩ về Huy. Bây giờ tôi không còn là người con gái xinh xinh má đỏ môi hồng của Ðà Lạt năm xưa, thay vào đó là nét chững chạc của người phụ nữ khép kín, nhưng vẫn còn chút duyên dáng của một thời xuân sắc.

     Ngày rời Ðà Lạt năm xưa tôi hai mươi tuổi, lần trở về tôi đã ở cái tuổi hai lần hai mươi, không còn trẻ để gậm nhấm những nỗi buồn, nhưng cũng không hẳn quên dễ dàng những kỷ niệm một thời quá đậm nét. Khi loanh quanh những con đường quen, nay đã ủ ê và tàn tạ với thời gian, và cũng vì đất nước đã trải qua bao cơn dâu bể, Ðà Lạt như một người đàn bà tàn phai nhan sắc, nét mơn mởn, vẻ xinh tươi đã không còn nguyên vẹn, tôi có cảm tưởng rằng nụ cười của Ðà Lạt không còn tươi thắm, chỉ gượng gạo như nét cười của người cô phụ.

     Ðêm hôm đó, trong căn nhà gỗ và chiếc lò sưởi vẫn lách tách bay những mảnh hoa than thật mỏng, tôi và cô tôi ngồi bên nhau ôn lại chuyện cũ. Hầu như chúng tôi nhắc lại hết những khuôn mặt cũ, và khi vô tình bà cô hỏi tới Huy, tôi không sao nén được tiếng thở dài. Từ ngày ấy khi rời xa Ðà Lạt, tôi về Sài Gòn tiếp tục đi học, rồi đi làm, sau đó lấy chồng. Chồng tôi là một nhà giáo, hiền hòa, trầm lặng. Sở dĩ tôi không muốn quen thêm một người lính nào nữa, là vì trong lòng tôi một hình ảnh Huy cũng đủ làm tôi nghĩ ngợi, khi cho rằng cuộc đời chiến chinh rày đây mai đó, giữa sự sống chết xảy ra hằng ngày, tôi khó có một đời sống bình an và hạnh phúc khi có một người chồng là quân nhân. Bài học đầu đời vẫn còn đó. Cứ xem như là Huy không muốn phản bội tôi, nhưng cuộc sống buồn chán ở những vùng đóng quân khiến chàng chỉ một chút mà đã sa chân vào con đường không lối thoát, để cũng vì thế mà bao nhiêu tình yêu và mộng đẹp trong đời tôi đã bay đi , như những áng mây hồng trên bầu trời lúc hoàng hôn, phút chốc đã biến mất vào đêm đen vô tận.

     Cô tôi ngồi trên chiếc ghế vải bọc nệm, lúc nào cô cũng đan áo. Không đan áo cho cô thì cũng đan cho cháu nội, cháu ngoại, và cả đan mướn cho những tiệm đan len trong thành phố, để bán cho khách nhàn du khi ghé thăm Ðà Lạt. Cô sống với người con gái chưa chồng, dù tuổi đã lỡ thời nhưng vẫn không dám lập gia đình vì đã nhìn thấy cuộc sống quá khó khăn, người lớn còn chật vật huống gì sinh sản thêm những đứa trẻ thơ thiếu ăn, thiếu mặc.

     Buổi chiều hôm ấy tôi một mình đi xuống dốc hoa vàng, ngắm nhìn lại những căn nhà năm xưa, hỏi thăm cô tôi về những người quen trong xóm. Ðời quả là dâu bể, chỉ hai mươi năm mà bể hóa dâu hay dâu hóa bể là chuyện thường, huống gì cả nước đã chìm vào cơn dâu bể. Tuy vậy, con đường có những cây mimosa hoa vàng hình như vẫn giữ được nét riêng của nó, như chút duyên thầm Ðà Lạt. Những căn nhà màu sơn có lợt lạt đi, những bụi cúc vàng vẫn rung rinh trên lối sỏi vào nhà, và bây giờ thì những ngọn thông đã vươn cao lên trên những nóc nhà, in vào mảnh trời chiều một nỗi buồn hiu hắt. Tôi cứ men theo bờ cỏ để đi lên đi xuống con đường này, như để ghi nhận vào lòng những hình ảnh đẹp của một thời đã qua, bởi vì tôi biết khó có thể trở lại Ðà Lạt một lần nữa, khi gia đình đi định cư ở nước ngoài.

     Tối hôm ấy, sau bữa cơm chiều với cái mát mẻ của rau xanh Ðà Lạt, hai cô cháu tôi ngồi bên lò sưởi, cô tôi vừa đan áo vừa rủ rỉ kể tôi nghe nhiều chuyện Ðà Lạt. Những chuyện xảy ra quanh đời sống của những người quen ở dốc hoa vàng, bây giờ thì tôi mới được biết thêm về câu chuyện của những cây thông Ðà Lạt. Nghe như chuyện hoang đường , nhưng đối với những người dân giàu tình cảm ở miền đất lạnh, Ðà Lạt vẫn là vùng đất sản sinh ra những mối tình lãng mạn và bi thương.

     Ðôi tay vẫn đan thoăn thoắt, cô tôi nhìn ra khung kính cửa sổ, đêm ấy lại là một đêm trăng thật sáng, tôi có thể nhìn thấy những bóng cây thông lay động bên ngoài khu vườn mờ mờ tối. Khó tìm đâu ra cái ấm cúng gia đình như không khí Ðà Lạt, mà cũng khó tìm đâu ra cái rét mướt của những nỗi sầu cô quạnh bằng Ðà Lạt. Bên tách trà nóng, cô tôi bỗng hỏi tôi:

     - "Cháu có nhớ căn nhà màu hồng ngày xưa ở cuối con dốc này không?"

     Tôi cố nhớ lại tất cả những căn nhà ngày xưa ở dốc hoa vàng, hình như căn nhà ấy là của một sĩ quan làm việc trong trường Chiến Tranh Chính Trị. Tôi trả lời sau một phút hồi tưởng:

     - "À, cháu nhớ rồi, căn nhà của ông M., có cô con gái xinh xinh học ở trường Bùi thị Xuân phải không cô?"

     Nói tới đây, tôi lại chạnh nhớ đến Huy, nhớ tới tôi những ngày tháng ấy. Tôi lắc đầu, không muốn bị ám ảnh vì những hình bóng cũ, nhưng đấy cũng chỉ là tự dối lòng mà thôi, vì ít nhiều gì khi trở về Ðà Lạt lần này, tôi vẫn có nghĩ tới chàng. Cô tôi lại tiếp tục câu chuyện:

     - "Ông M. mất rồi, chết trong trại Cải tạo ở miền Bắc. Căn nhà ấy được bán cho người khác, cả cô con gái cũng chết trong thời gian ấy, nhưng hình như linh hồn nó không siêu thoát được, cho nên những đêm trăng như thế này, ai đi đâu về khuya, vẫn thấy dưới gốc thông trước sân có hai cái bóng trắng đứng ôm nhau ở đó, nhưng hễ lại gần là biến mất."

     Không tin lắm chuyện ma quỷ, nhưng giữa một đêm Ðà Lạt trăng sáng như đêm ấy, tôi không khỏi rùng mình và cũng chợt nhìn ra khung cửa sổ. Óc tò mò khiến tôi phải tìm ra cái uẩn khúc của những hồn ma dưới gốc thông nơi con dốc hoa vàng, tôi hỏi cô tôi:

     - "Nhưng sao lại có những hai chiếc bóng dưới gốc cây thông hở cô?"

     Cô tôi bỏ thêm than vào lò sưởi, những chiếc hoa than lại bay lên kêu lách tách, khiến câu chuyện trong đêm vừa ly kỳ mà lại thêm điều gì u uẩn đến lạnh người. Cô tôi chậm rãi kể:

     - "Con bé ấy xinh đẹp, dễ thương mà chết sớm quá, đúng là hồng nhan bạc mệnh. Cháu có nhớ sau năm 75, các sĩ quan bị đưa đi tập trung cải tạo, cha của nó cũng bị đưa ra Bắc vì ông ta là một sĩ quan cấp tá. Gia đình lâm vào cảnh cùng cực, bà vợ hồi xưa sống dựa vào chồng cho nên khi ông ta đi tù thì đời sống gia đình thê thảm lắm. Họ phải mở một cái quán nước để mẹ con bấu víu vào đấy mà sống, mấy đứa con phải nghỉ học để giúp mẹ. Cái tội nhất là cô con gái mà cháu biết. Nó thật xinh đẹp nết na, ngày xưa cũng có quen với một anh chàng bên Võ Bị, hai đứa chúng nó hứa hẹn là khi ra trường sẽ làm đám cưới, nhưng..."

     Không biết tại sao tôi lại buột miệng cắt lời cô với một vẻ mỉa mai, khi nhớ tới chuyện của mình ngày xưa:

     - "Có phải khi anh ta ra đi là quên mất lời thề, và cô ta đã bị bỏ rơi."

     Hình như hiểu được lòng tôi, cô tôi chỉ mỉm cười

     - "Không phải thế đâu cháu, đâu phải trái đất này chỉ đầy những con người phản bội. Nếu thế thì làm gì có chuyện hai hồn ma hiện về dưới bóng cây thông mỗi đêm trăng sáng."

     Tôi cũng mỉm cười, trở lại với câu chuyện dang dở của hai cô cháu:

     - "Vâng, có lẽ cháu nhìn đời không được bình thường thôi cô ạ. Thế chuyện làm sao nữa hả cô?"

     Cô tôi nhắp một ngụm trà rồi hắng giọng kể tiếp:

     - "Những năm sau cuộc chiến, bao nhiêu chuyện xảy ra thật là bi thảm cho nhiều gia đình người dân miền Nam, cho nên, nhà con bé An, cũng là một trong những cảnh đáng thương mà cô nhìn thấy. Người yêu của nó sau khi ra trường, được đổi về một đơn vị ngoài Ban mê Thuộc, chính là điểm khởi đầu cho cuộc tiến công vào miền Nam , và anh ta không bao giờ trở về nữa cháu ạ. Nghe nói khi hay tin anh ta chết, con bé An có đi tìm đến gia đình anh ta, nhưng hầu như chẳng bao giờ còn có hy vọng tìm được xác người lính ấy nữa. Thật tội nghiệp! Từ đấy, con bé như người mất hồn, bố lại bị đi cải tạo, được vài năm thì chết trong tù, gia đình ấy tan tác từ đấy. Con bé cứ buồn rầu mãi, người xanh lướt như tàu lá, vì đời sống ăn uống thiếu thốn, dồn dập bao nhiêu chuyện buồn, cho nên vào một năm trời Ðà Lạt bỗng trở lạnh hơn mọi năm, tự nhiên nó lang thang đi ra ngoài lúc ban đêm, về nhà bị cảm lạnh, sưng phổi rồi chết."

     Cô tôi ngưng lại như để nén những xúc cảm đang dâng trong lòng cô. Tôi cũng im lặng mà nghe như trong bóng đêm đầy ắp một nỗi buồn. Tôi nhớ cô bé An, nhỏ hơn tôi vài tuổi, rất xinh xắn trong chiếc áo len màu xanh đồng phục của trường Bùi thị Xuân, mỗi buổi sáng vẫn hay đi ngang nhà tôi, khép nép chào bố mẹ tôi mỗi lần gặp. Bây giờ cô đã ra người thiên cổ, và gặp người yêu ở bên kia thế giới. Thế cũng là một điều vui, chẳng hơn tôi và Huy, vẫn còn ăn còn thở mà đời thì như đã nghìn trùng xa cách... Nhìn ánh trăng mờ ảo ngoài khu vườn đầy bóng cây lay động dưới gió đêm, nghe hàng thông phía sau nhà reo vi vu trong đêm tối, tôi vẫn trăn trở với hai chiếc bóng của đôi tình nhân trong ngôi nhà cuối dốc. Tôi hỏi:

     - "Bây giờ gia đình An còn ở đấy không hả cô?"

     Cô tôi khẽ thở dài, vẫn đưa những mũi kim nhanh thoăn thoắt dưới ánh đèn dìu dịu của căn phòng, và tiếng than hồng vẫn tí tách trong lò sưởi:

     - "Không, nhưng câu chuyện chưa chấm dứt ở đây, để cháu thấy là thế giới của linh hồn có những điều kỳ diệu mà mình không hiểu được. Cô nghe kể lại rằng, hồi hai đứa nó yêu nhau, có trồng một cây thông ngay lối vào nhà, và không biết họ đã hẹn thề với nhau như thế nào, nhưng cây thông ấy thì càng ngày càng cao lên theo tình yêu của họ. Nhưng từ lúc anh chàng Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị ấy ra trường, rồi hy sinh ngoài mặt trận, người ta chưa nhắc tới chuyện hồn ma nơi gốc thông ấy. Chỉ đến khi con bé An chết đi, người ta vô tình mới phát hiện được hai cái bóng đứng ôm nhau dưới gốc thông mỗi đêm trăng. Từ đằng xa, rõ ràng có hai cái bóng trắng quấn quýt dưới gốc thông, người trong xóm về khuya cứ tưởng là có người đang hẹn hò tâm sự dưới đêm khuya, nhưng đến khi lại gần thì không nhìn thấy gì nữa, hai cái bóng đã biến mất. Không phải một lần mà người ta đã tin, nhưng đã có nhiều người nhìn thấy rồi, cho nên dù không tin cũng phải tin, có người còn mua cả hoa thơm và nhang đèn để cầu cho đôi bạn ấy được siêu thoát."

     Nghe cô tôi kể tới đây, tự nhiên tôi cũng phải rùng mình, và càng cảm thương cho một mối tình chung thủy, đẹp tuyệt vời của đôi tình nhân, huống gì cô bé An lại là người hàng xóm của tôi ngày xưa. Cô tôi lại tiếp tục kể:

     - "Thật tội nghiệp cho những người tuổi trẻ yêu nhau thời chinh chiến. Linh hồn họ bị những lời thề ràng buộc mãi vào nơi chốn trên trần gian, cho nên vẫn tìm cách đến với nhau dù đã xa lìa cõi thế. Cuối cùng , sau cái chết của chồng và cô con gái, mẹ cô An đưa các con về Ðơn Dương làm rẫy, căn nhà được bán lại cho người khác..."

     Tôi tò mò ngắt lời cô:

     - "Thế linh hồn đôi tình nhân còn hiện về dưới gốc thông những đêm trăng nữa không cô?"

     Cô tôi gật đầu:

     - "Vẫn còn, hình như khi sống họ ở đâu, đến khi chết linh hồn chưa siêu thoát, họ cứ theo lối cũ mà về. Mãi tới khi làm lại con đường cho rộng hơn theo chỉ thị của nhà nước, phải chặt cây thông vì nó nằm gần vệ rào, từ đấy đôi tình nhân mới thôi trở về với nhau. Nhưng tội lắm cháu ạ, hôm đốn cây thông cô cũng ra xem, trời cứ âm u suốt ngày hôm ấy, lúc cây thông được đốn ngã xuống những giòng nhựa tươm đầy dưới gốc thông. Nó màu đỏ cháu ạ, đỏ xậm như máu, thay vì màu nâu nâu như thứ mủ thông cháu thường thấy, mủ cây thông này lại màu đỏ. Nhìn nó cô cứ tưởng như những giòng máu đỏ của chàng trai Võ Bị năm xưa đã nằm xuống khi tuổi còn thanh xuân, và cho một lời thề còn dở dang..."

     Nghe cô tôi kể tới đây, tôi rợn cả người, trong khi ấy bên ngoài khung cửa sổ, tôi nhác thấy những bóng thông oằn oại dưới ánh trăng. Ðêm Ðà Lạt rét mướt, ẩm ướt những sương khuya, tiếng thông reo như một bài tình ca bất tận, những chiếc hoa than vẫn lách tách trong lò sưởi, bỗng dưng tôi nghe như có những giọt nước mắt ngậm ngùi rơi âm thầm trong bóng tối của một đêm tôi trở về Ðà Lạt.

* * *

     Bây giờ ở xứ người, tôi vẫn nhìn thấy những bóng cây thông Ðà Lạt năm xưa . Mỗi mùa Xuân sang, trời ấm áp, những chiếc hoa thông đầy phấn vàng, những bóng nắng lấp lánh trên ngọn thông, tôi vẫn nhớ về Ðà Lạt và câu chuyện tình của cô bé tên An với chàng trai Võ Bị.

     Cú điện thoại của người bạn cũ và câu chuyện gặp lại Huy với chiếc chân đi khập khiễng, làm lòng tôi mơ hồ nhớ lại chuyện mình năm xưa. Và tôi cũng chợt nhớ đến thời con gái còn ngây thơ, tham gia trong một tổ chức thiện nguyện của nhà thờ, tôi và cô bạn cũ thường hay dành những chiều thứ Bảy để đi thăm những người thương binh trong quân y viện. Lần ấy, chúng tôi đã bị từ chối bởi một người sĩ quan trẻ cụt cả hai chân , mặt xanh lướt , đắp một tấm chăn mỏng trong phòng dưỡng thương của bịnh viện. Anh nằm yên lặng, đôi mắt đăm đăm nhìn lên trần nhà, tấm chăn đắp cho thấy anh chỉ còn hơn nửa phần trên của cơ thể. Khi thấy chúng tôi ngỏ ý thăm anh, anh quay mặt vào vách tường và bảo người lính đóng cửa phòng lại. Tôi còn nhìn thấy trên khuôn mặt xanh lướt ấy, đôi mắt anh như chất chứa một đám mây đen tuyệt vọng.

     Bây giờ khi tôi chợt hiểu về lá thư tuyệt tình của Huy gần ba mươi năm trước, thời gian trôi đi khá lâu để tôi không còn cơ hội tìm gặp chàng , để cảm tạ ân tình cao đẹp của người trai Võ Bị năm xưa, khi anh cũng mang mặc cảm giống như người thương binh bị cụt chân nằm trong Quân Y viện, không muốn bắt người yêu hy sinh và chia xẻ gánh nặng với mình trong suốt nẻo đường trần. Anh đã chịu mọi thiệt thòi, mất mát nhất của người trai trong thời ly loạn, kể cả việc bị tôi nguyền rủa anh là kẻ bạc tình , và đã quên anh như quên một chiếc bóng bên đường.

     Không biết tôi có nên tìm lại anh để nói những lời giải bày cho một chuyện tình ngày trẻ tuổi. Có lẽ cũng không nên gặp lại khi cả hai đã có một cuộc đời riêng, như định mệnh đã xô đẩy hai đứa về hai phương trời khác biệt. Nhưng tôi biết rằng từ hôm nay, tôi vẫn yêu Ðà Lạt, vẫn giữ mãi trong lòng những ngọn thông xanh Ðà Lạt năm xưa, khi ngồi với Huy dưới một gốc thông trong khu rừng Ái Ân, bên bờ hồ Than Thở.

 (Thân tặng các bạn của tôi, khóa 25 VBÐL.)
 Nguyên Nhung
ĐALAT DẤU YÊU  http://www.dalatdauyeu.org/


NGHE TIẾNG MUÔN TRÙNG - TRỊNH CÔNG SƠN
TIẾNG HÁT NGỌC LAN


Đêm nghe gió tự tình
                  Đêm nghe đất trở mình vì mưa                      
Đêm nghe gió thở dài
Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai

Nghe trăm tiếng ngậm ngùi
Nghe lăng miếu trùng vây
Nghe xa cách cuộc đời
Nghe hoang phế cạnh đây

Xin trên những đường dài
Cho nghe bước rộn vui
Xin trên những nụ cười
Còn rạng rỡ mặt trời

Đêm nghe gió than hoài
Đêm nghe lá đưa lời hàm oan
Đêm thân xác mịt mùng
Đêm nghe tiếng muôn trùng đẩy đưa

Sưu tầm từ Internet


Sự quý giá của việc sống chân thành: Luôn có thể ngủ thật bình yên…


“Lòng tốt là thứ người điếc có thể nghe và người mù có thể thấy” nên chỉ cần bạn chân thành thì điều nhận lại không chỉ là niềm vui. Hãy sống nhẹ nhàng, chân thành với tất cả; cứ chân thành cho đi rồi sẽ nhận lại yêu thương…
Ở một khu phố nọ có một bé trai và một bé gái hay chơi cùng với nhau. Cậu bé có một bộ sưu tập những viên bi thủy tinh đủ màu sắc còn cô bé có những viên kẹo ngọt xinh xắn và ngon mắt.

Một hôm cậu bé bảo cô bé rằng nếu cô bé cho cậu tất cả số kẹo của cô, cậu sẽ tặng lại cho cô bé tất cả số bi của cậu.

Cô bé vui vẻ đưa tất cả số kẹo của mình như đã hứa để nhận lấy những viên bi trong veo đủ màu sắc từ tay cậu bé. Nhưng có một điều mà cô bé không biết là cậu bé đã giấu đi những viên bi đẹp nhất của mình và đưa phần còn lại cho cô…

Đêm đó, cô bé ngủ rất yên bình với những viên bi xinh đẹp để trên đầu giường, trong khi cậu bé không thể ngủ vì băn khoăn cô bé có giấu đi những viên kẹo tuyệt nhất giống như cậu giấu những viên bi đẹp nhất của cậu hay không?

Lời bàn: “Một sự thật xấu xí còn hơn một điều dối trá tốt đẹp.” Người có lối sống chân thành bao giờ cũng tự nhiên có một sức thu hút đối với người khác, bởi bản chất con người là luôn muốn hướng về sự thật, về chân lý…

Vậy nên hãy chân thành 100% với tất cả những điều bạn làm và luôn ngủ thật yên bình nhé.

Theo Wordzz

Mộc Trà biên dịch


Sưu tầm từ Internet



CÁI TÔI VÀ SỰ HIU BIẾT


Khi bàn về cái tôi, người ta thường nói hóm hỉnh rằng: trong cuộc sống, cái tôi mà nặng thì thành tội; cái tôi huyền thì thành tồi; và cái tôi sắc thì thành tối. Mà sống trong tội lỗi, tồi tàn và tăm tối đều là sống trong sự thiếu hiểu biết. Vậy phải chăng sự hiểu biết và cái tôi có sự đối lập như Albert Einstein đã từng nói: “Cái tôi và sự hiểu biết tỷ lệ nghịch với nhau. Hiểu biết càng nhiều thì cái tôi càng nhỏ. Hiểu biết càng ít thì cái tôi càng lớn.”


Phát biểu của Albert Einstein đưa ra một vấn đề cần được xem xét và chứng minh. Vấn đề đó là mối liên hệ tỷ lệ nghịch giữa sự hiểu biết và cái tôi. Để có thể thấy được mối liên hệ tỷ lệ nghịch này, chúng ta cần xem xét một số vấn đề như định nghĩa về “cái tôi”, đặc điểm của “cái tôi” và phân tích “cái tôi” trong mối quan hệ với sự hiểu biết”


Một cụ ông hỏi một cụ bà về định nghĩa của tình yêu. Cụ bà lắc đầu, không thể đưa ra một khái niệm chắc chắn về tình yêu bởi “yêu” là một khái niệm trừu tượng. Cũng như thế, rất khó để có thể đưa ra một định nghĩa hoàn hảo về khái niệm “cái tôi”. Bởi chúng ta không thể chỉ vào một vật nào đó và nói rằng đây là “cái tôi” hay kia là “cái tôi”. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận biết và gọi danh cái tôi thông qua những biểu hiện của nó.


Cái tôi của một người có thể được xem là thái độ nhận định của người đó về chính mình, thái độ đó có xu hướng đề cao bản thân, xem bản thân hơn người khác. Vậy câu nói của Albert Einstein có ý cho mọi người thấy rằng: người càng hiểu biết sâu rộng thì càng tự hạ mình, tôn trọng và chấp nhận người khác. Còn người càng ít hiểu biết thì lại càng cho là mình hơn người khác, đặt bản thân lên trên người khác. Nói đến đây, chúng ta cũng đã có thể phần nào hiểu được về cái tôi. Tuy nhiên, chúng ta cần phải bàn thêm nhiều hơn để có thể thấy rõ những đặc điểm của cái tôi trong mối liên hệ với sự hiểu biết.


Cái tôi đi liền với việc cá nhân luôn cho mình là đúng là hơn người. Người có cái tôi lớn tự tin một cách thái quá vào khả năng của bản thân, nên họ cho rằng suy luận, ý kiến của họ là đúng, là tốt nhất. Và khi nghĩ như vậy thì họ không chịu chấp nhận những ý kiến trái chiều hay những lời phê bình và chỉ trích. Họ sẵn sàng phồng mang trợn má, dùng mọi nỗ lực để bảo vệ cho “cái tôi” to lớn kia. Khi nhìn vào các cây liễu và cây dầu trong cơn bão, cây liễu mềm dẻo, uốn mình thừa nhận sự yếu đuối của nó trước những cơn gió mạnh bạo.


Trong khi đó, cây dầu lại đứng hiên ngang, giương tất cả các cành to khỏe nhất, cứng cáp nhất để thể hiện sức mạnh của mình, để khẳng định “cái tôi” của nó. Kết quả là cây dầu đã bị quật đổ, cành cây xơ xác, còn cây liễu thì mỗi ngày mỗi lớn hơn dẫu cho biết bao nhiêu cơn bão đã qua đi. Người có cái tôi càng lớn thì họ lại càng không sẵn sàng tiếp thu những đóng góp của người khác nên chẳng thể thu tích được những tư tưởng hay những điều hay điều mới lạ. Dần dần, cái tôi của họ trở nên lớn hớn và sự hiểu biết thì đâm ra hạn hẹp. Còn đối với những người có cái tôi càng nhỏ, họ sẵn sàng rộng mở, đón nhận những yếu đuối của bản thân từ đó mà khắc phục và hoàn thiện hơn, hiểu biết nhiều hơn.


Thêm một đặc điểm nữa khi nói về cái tôi, người có cái tôi lớn là người có xu hướng che giấu, giữ lấy cái xấu, cái dở và cả cái ngu của họ mà không thèm đến cái hay cái tốt nơi người khác. Lý do khiến họ muốn che giấu là vì cái tôi to lớn của họ không muốn người khác biết được yếu điểm của họ, vì như thế thì sẽ rất dễ bị thua người khác. Khi che giấu cái dốt của bản thân, họ đã vô tình đóng lại cánh cửa duy nhất của sự hiểu biết. Họ chặn không cho mình tiếp thu những bài học mới mà cứ giữ lấy những quan điểm, những định kiến cũ rít của mình.


Một cái ao tù muốn đem lại sức sống mới thì không còn cách nào khác ngoài việc bỏ đi những khối nước tù đọng và nghèo nàn, thay vào đó là những dòng nước mới và giàu phù sa. Chúng ta không thể tiếp thu một điều mới mẻ và cấp tiến nếu cứ giữ lấy những tư tưởng bảo thủ. Giống như chúng ta không thể nào cầm lấy những quyển sách mà trên tay chúng ta lại ôm lấy cả một đống giấy vụn. Cách duy nhất là chúng ta hãy bỏ đống giấy đó xuống và đưa tay đón lấy những quyển sách. Hãy đặt cái tôi của chúng ta xuống và đón lấy những điều mới mẻ.


Khi xem xét sự hiểu biết trong mối quan hệ với cái tôi, chúng ta có thể thấy rằng người có cái tôi lớn là người hiểu biết rất ít về chính họ. Còn người có cái tôi nhỏ hóa ra lại là người biết rất nhiều về bản thân. Dựa trên đặc điểm của cái tôi, chúng ta dễ nhận ra rằng, người có cái tôi càng lớn thì càng hành động theo cảm xúc. Có thể chỉ cần một lời nói tựa như một giọt nước lạnh đụng chạm đến cái tôi to lớn của họ, chê bai hay chỉ trích chẳng hạn, thì họ tưởng chừng như đang bị dội cả một gáo nước lạnh hay cả một xô nước lạnh lên đầu, thế là họ có thể đã bực tức, cau có phản ứng dữ dội và để cảm xúc lấn áp lý trí. Những người như thế thật thiếu hiểu biết về chính mình.


Ngược lại, người có hiểu biết sâu rộng sẽ tìm để biết mình và hành động dựa trên lý trí, thay vì tình cảm. Người càng hiểu biết thì càng bình tĩnh và điềm đạm, họ suy xét kỹ lưỡng và sẽ nhận ra được những khiếm khuyết của bản thân. Từ đó, người càng hiểu biết thì càng hiểu bản thân hơn. Khi đã nhận ra yếu đuối của bản thân, thì cái tôi của họ sẽ càng ngày càng nhỏ lại. Dù có bị dội cả xô nước thì họ vẫn cảm thấy mát lạnh, sảng khoái, và thậm chí là họ còn cảm ơn người đã giúp họ rửa sạch những nhơ bẩn nơi họ.


Sau khi phân tích mối quan hệ giữa cái tôi và sự hiểu biết, chúng ta có thể khẳng định rằng Albert Einstein đã đúng khi cho rằng “Hiểu biết càng nhiều, cái tôi càng bé. Hiểu biết càng ít, cái tôi càng lớn”. Cái tôi là một khái niệm thật khó để diễn tả hết. Cái tôi nằm trong ngay chính mỗi người, nhưng không phải ai trong chúng ta cũng đủ hiểu biết để nhận thức và làm cho nó nhỏ lại. Không ai trong chúng ta muốn bị người khác gán cho cái mác là “cái tôi lớn” và cũng không ai muốn trở thành một kẻ ngu si, thiếu hiểu biết, nên mỗi chúng ta cần nhận biết và kiểm soát cái tôi của mình. Chúng ta cần làm cho mình trở nên hiểu biết hơn và làm cho cái tôi bé hơn mỗi ngày.




Sưu tầm từ Internet

BẠN ĐÃ DÀNH CHO GIA ĐÌNH NHỮNG GÌ?



Có những lúc bạn vô tình đặt gia đình ở một vị trí rất bình thường trong trái tim bạn. 
Chỉ khi thật sự mất đi một điều gì đó, bạn mới thấy điều đó là quan trọng.


 KHI CÒN NHỎ ...

- Bạn sẵn sàng nhường nhiều thứ lớn hơn cái kẹo cho đứa bạn ngồi cùng bàn nhưng đôi khi lai tranh giành đến đánh nhau với đứa em chỉ vì một chỗ ngồi.

- Bạn rất vui khi nhận trực nhật giùm cô bạn trong lớp nhưng lại luôn phân bì công việc dọn dẹp nhà cửa với đứa em ở nhà.

- Bạn có thể hăng hái làm một đầu bếp “siêu hạng” trong chuyến cắm trại đã ngoại của lớp nhưng lại không nhấc nổi tay chân vào bếp nhặt rau giúp mẹ. Bạn xem đó là việc đương nhiên mẹ phải làm.

- Bạn sẵn sàng bỏ ra ra hàng giờ đồng hồ trong quán điện tử và “chỉ bảo” cho những tên “đệ tử” với những game phức tạp nhưng lại không có lấy 1 phút để giảng bài cho các em của mình.

- Bạn luôn nhớ chúc mừng và tặng quà cho các cô bạn gái nhân dịp sinh nhật, 8-3 nhưng lại quên mất rằng bạn còn có một người phụ nữ khác quan trọng hơn rất nhiều, đó là Mẹ.

- Bạn thường sa sầm mặt mày, thậm chí nổi xung lên chỉ vì những lời trách cứ, răn dạy của bố mẹ, dù đúng nhưng sau đó bạn lại quên ngay như chưa từng được nghe.

- Bạn đã từng lưỡng lự mỗi khi xoa đầu cho Mẹ khi mẹ cảm thấy mệt nhưng lại quên mất rằng mẹ đã từng thức thâu đêm để canh giấc ngủ của bạn mỗi khi bạn “trái gió trở trời”


KHI LỚN LÊN...

- Bạn quá bận rộn với công việc, ngày nào cũng đến khuya mới về, ăn uống vội vàng rồi ngủ mà đôi khi quên hỏi thăm mẹ vì đã chong đèn thức chờ cơm bạn.

- Bạn đã từng khó chịu vì cha mẹ mình có lúc lẫn thẩn, “già hoá trẻ con” nhưng lại quên mất chính vì một phần vất vả, sinh thành nuôi dưỡng bạn mà cha mẹ bạn đi về hướng ngược lại như vậy.

- Bạn không bao giờ để ý rằng những lúc bạn buồn bã, thất vọng hay thất bại, Mẹ luôn ở bên cạnh bạn, chở che nâng đỡ bạn. Và dường như bạn cho rằng mỗi ngày việc bạn nhìn thấy mẹ là một điều hiển nhiên.


KHI BẠN RỜI XA GIA ĐÌNH ...

- Bạn bắt đầu hiểu cha mẹ đã vất vả, khó nhọc thế nào để nuôi bạn khôn lớn.

- Bạn hối hận vì đã cư xử không phải khi cha mẹ cứ trách mình.

- Bạn nhận ra rằng đứa em bạn thật đáng yêu, xem ra nó không trẻ con một chút nào, khác hẳn với bạn.

- Bạn cảm thấy tiếc nuối vì đã đánh mất biết bao giây phút gia đình sum họp đầm ấm.

- Bạn nhận ra mình thật vô tâm vì chưa bao giờ thực tâm giúp mẹ trong công việc gia đình.

- Bạn có lúc sẽ nhận ra là mình đã sai khi đặt cha mẹ ra khỏi thế giới riêng của mình chỉ vì một suy nghỉ hết sức một chiều: “Cha mẹ không hiểu con!”

- Chỉ khi bắt đầu làm cha, làm mẹ bạn mới thấu hiểu làm đấng sinh thành khó đến dường nào. Khi những đứa con xinh xắn của bạn lớn lên, bạn mới thấy thật không dể dàng để làm bạn với chúng. Và khi đã bước vào cuộc sống rồi, bạn mới hiểu sẽ rất khó có những giây phút vui vầy cạnh những đứa em như xưa. Nhưng hình như tất cả đã quá muộn, ba mẹ bạn hoặc đã già, hoặc đã đi xa mãi mãi. Bạn không thể tìm lại được những năm tháng hạnh phúc ấy.

- Có những lúc bạn vô tình đặt gia đình ở một vị trí rất bình thường trong trái tim bạn. Chỉ khi thật sự mất đi một điều gì đó, bạn mới thấy điều đó là quan trọng. Sẽ đến một ngày những giây phút bình dị nhất bên gia đình sẽ không còn nữa. Bạn ngoảnh đầu nuối tiếc ư? Sẽ không còn kịp! Bạn hãy dành nhiều thời gian cho gia đình hơn nữa, để yêu thương và cảm nhận đầy đủ những nhọc nhằn của mẹ, những nghiêm khắc của cha hay cái nhõng nhẽo của những đứa em. Vì có thể một lúc nào đó, bạn sẽ không còn thời gian để quay lại được nữa đâu!...


Tác giả: Khuyết Danh


 Sưu tầm từ Internet

Quả không sai! Người xưa dạy “có hại chịu thiệt là phúc!”



Người xưa dạy “có hại chịu thiệt là phúc” quả không sai! Trong lịch sử đã có rất nhiều câu chuyện thật chứng minh câu nói này là đúng, dưới đây là một câu chuyện như vậy.

Thời xưa ở phủ Thiệu Hưng có hai anh em ruột nhà nọ đều làm nghề buôn bán kinh doanh vải và lương thực. Hai anh em họ, mỗi người đều sinh được một người con trai. Nhưng người em trong lúc buôn bán không may gặp phải một kẻ bất nghĩa lừa gạt nên đã bị tổn thất nghiêm trọng. Vì quá uất ức, người em đã thắt cổ tự tử. Vợ của người em vì quá đau buồn, uất ức nên chưa đầy một năm sau thì cũng để lại cậu con trai bé nhỏ mà ra đi.

Cậu con trai nhỏ bé chưa đầy 6 tuổi của họ vì mất cả cha lẫn mẹ nên đành phải đi ăn xin kiếm sống ngoài đường. Ai cho cậu bé thứ gì cậu đều nhận lấy và nói lời cảm ơn.

Người anh chứng kiến gia đình người em chỉ trong một thời gian ngắn đã lâm vào bi thảm như thế. Anh ta không đành lòng nên đã đưa đứa cháu chưa đầy 6 tuổi này về nhà nuôi nấng. Nhưng đáng tiếc thay, kể từ ngày được về nhà bác ở, cậu bé lại lâm vào một loại hoàn cảnh bi thảm và áp lực không kém những ngày ăn xin ngoài đường.

Bởi vì vợ của người anh có lòng dạ nhỏ nhoi, hẹp hòi lại luôn coi thường người thân thích và bạn bè nghèo khó. Nên, khi thấy chồng mang đứa cháu đáng thương về nhà nuôi, trong lòng cô ta hậm hực vô cùng. Vì không có lý do nào để đuổi người cháu ra khỏi nhà nên người bác dâu luôn nói với hết người này người khác rằng: “Thằng bé đó là người mang đến vận rủi, nó có mệnh của kẻ ăn mày. Con trai tôi có mệnh làm trạng nguyên, không thể chơi cùng với đứa ăn mày được.” Vì thế mà người trong thôn từ đó gọi cậu bé đáng thương là “tiểu ăn mày” còn gọi con trai họ là “tiểu trạng nguyên.”

Ban ngày, người bác dâu luôn bắt cậu bé đi cắt cỏ, đốn củi, còn buổi tối thì bắt cậu bé ngủ trong kho củi, ăn cơm với dưa muối và không ngày nào được ăn no. Hằng đêm, khi mọi người đã đi ngủ, vạn vật yên tĩnh, cậu bé đều ngẩng đầu nhìn những ngôi sao trên bầu trời, nhớ về cha mẹ mà tủi thân khóc…

Ngay từ nhỏ, cậu bé “ăn mày” này đã là người hiểu chuyện. Cậu biết bác trai mình là người sợ vợ nên không bao giờ để bác phải rơi vào cảnh khó xử. Cậu cũng biết bác dâu là người coi trọng tiền bạc và lợi ích nên luôn im lặng trước những lời trách mắng, kể cả là những lời trách mắng không có căn cứ.

Ngược lại với cậu bé “ăn mày”, anh họ của cậu lại là một cậu bé kiêu căng ngạo mạn. Cậu ta luôn ức hiếp em họ mình và còn mỉa mai rằng: “Đồ ăn mày! Đừng lại gần ta, đừng đem không khí nấm mốc đến nhà ta.”

Bác dâu luôn yêu chiều con trai mình mà hắt hủi người cháu đáng thương. Ngoài việc cho con ăn những đồ ngon nhất, mặc quần áo đẹp nhất thì cô luôn đáp ứng mọi yêu cầu của con. Mặc dù được yêu chiều như vậy nhưng con trai của họ luôn bị ốm đau bệnh tật. Điều này khiến cho người bác dâu càng ghét bỏ người cháu hơn bởi vì cậu bé tuy chỉ được ăn cơm với rau dưa nhưng lại luôn vui vẻ và mạnh khỏe.

Ở trong thôn có một nhà thờ tổ của dòng họ, ở đó có một vị thầy giáo già dạy học cho hơn 10 đứa trẻ con nhà khá giả. Những đứa trẻ này đều là có nộp học phí nên mới được tham gia lớp học. Vì vậy mà “tiểu trạng nguyên” cũng được vào học còn “tiểu ăn mày” chỉ có thể ngồi ở ngoài hành lang mà nghe lén. Vị thầy giáo già biết hoàn cảnh đáng thương của “tiểu ăn mày” nên thường cho cậu ngồi ở cửa lớp nghe giảng bài và cũng cho cậu mượn sách về đọc.

Về sau, thầy giáo phát hiện ra “tiểu ăn mày” có năng lực và trí nhớ hơn người, vượt xa những đứa trẻ khác. Đã là cậu bé hiểu chuyện lại chăm chỉ học hành, vì vậy thầy giáo già đã xin cậu bé về làm con thừa tự. Người bác dâu cảm thấy vô cùng vui vẻ, trong lòng như trút được gánh nặng liền đồng ý ngay lập tức. Bác trai của cậu bé vì hiểu được hoàn cảnh của cháu nên cũng đồng ý cho cậu về ở với thầy giáo già.

Mấy năm sau, thầy giáo già cáo lão về quê đồng thời đưa “tiểu ăn mày” theo cùng. Kể từ ngày đó, cậu bé đáng thương không còn mối liên lạc với gia đình người bác của mình.

Thấm thoát đã hơn 10 năm trôi qua, nhờ sự chỉ dạy của cha nuôi và sự cố gắng hết mình của bản thân, “tiểu ăn mày” giờ đây đã trở thành một thư sinh có tri thức hiểu lễ nghĩa. Cậu đã trải qua các kỳ thi và cuối cùng vào kinh thành dự thi rồi đỗ trạng nguyên ngay trong lần đầu. Cậu bé có mệnh “ăn mày” khi xưa đã không phụ lòng cha nuôi mà trở thành trạng nguyên. Điều trùng hợp chính là, “tiểu ăn mày” năm xưa lại trở về phủ Thiệu Hưng làm phán quan.

Sau ngày “tiểu ăn mày” rời đi, gia đình người bác ở Thiệu Hưng bị phá sản. Bởi vì từ nhỏ đã được yêu chiều, nên sau này lớn lên “tiểu trạng nguyên” không biết làm việc gì. Cậu ta bắt đầu tham gia với nhóm bạn đứng đường cướp bóc của dân. Đúng ngày “tiểu ăn mày” trở về quê làm quan thì cũng là ngày anh họ cậu bị bắt. Người anh họ biết rõ người xét xử mình là “tên ăn mày” luôn bị mình mỉa mai năm xưa nên vô cùng xấu hổ và đố kỵ. Người anh họ này sau đó bị chịu hình phạt ngồi tù 5 năm.

Mặc dù, khi xưa bị người bác dâu đối xử không tốt nhưng “tiểu ăn mày” không vì thế mà để bụng. Về sau, người anh họ hết hạn tù, “tiểu ăn mày” còn thu xếp công việc cho cậu ta và chăm sóc hai người bác họ cho đến tận cuối đời. “Tiểu ăn mày” cả đời làm quan thanh bạch luôn giúp đỡ người khác, gia đình hạnh phúc, con cái hiếu thảo thành đạt, sống an vui đến tận về già.

Người xưa dạy “có hại chịu thiệt là phúc” quả không sai! Người luôn sẵn lòng chịu thiệt, sẵn sàng giúp đỡ, tha thứ cho người khác kể cả với người đối xử không tốt với mình, người ngoài nhìn thì tưởng rằng họ là “kẻ ngốc” nhưng chính là họ đang tích đức, tích phúc báo cho mình. Cho nên, những điều may mắn, và vận mệnh tốt sẽ đến với họ.

Hãy luôn làm người tốt, chịu thiệt thòi một chút không hẳn là “người ngốc”, có thể hiện tại bạn sẽ bị mất đi một chút lợi ích nào đó nhưng tâm hồn bạn sẽ luôn được bình an và nhất định bạn sẽ được phúc báo!



TAN VỠ - LAM PHƯƠNG
TIẾNG HÁT NGỌC LAN


Một chiều thu xưa e ấp bên nhau
Lặng nhìn mây trôi mơ mối duyên đầu
Mơ ngày hai đứa bước chung nhịp cầu
Dệt bao mộng thắm cho nhau
Và mơ đến mai sau

Mà chiều thu nay ai nỡ bước đi
Để hồn bơ vơ giữa tuổi xuân thì
Ôm sầu cay đắng đớn đau riêng mình
Tàn phai một giấc mơ hoa
Thương ngày vui chóng qua

Ngàn năm mây vẫn bay
Có buồn chăng hỡi ai
Sao tình đời chóng phai
Ái ân xưa quên rồi
Bước đi không đôi lời
Còn gì đâu nữa ân tình

Rồi người ra đi đẹp mối tơ duyên
Còn một mình tôi thương chút hương nguyền
Cho dù ai đã bước sang ngang rồi
Mình tôi một bóng đơn côi
Thương ngàn đời khó nguôi